NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN HÓA HỌC VÀ HOẠT TÍNH SINH HỌC CỦA CÂY RÂU MÈO (ORTHOSIPHON STAMINEUS BENTH.) VIỆT NAM
Hóa hữu cơ
Nghiên cứu này tập trung vào cây Râu mèo (Orthosiphon stamineus Benth.) ở Việt Nam, một loài thực vật có giá trị y học cổ truyền với các tác dụng lợi tiểu, chống viêm và điều trị sỏi thận. Mặc dù đã có nghiên cứu quốc tế về thành phần hóa học (flavonoid, dẫn xuất axit caffeic, diterpen) và hoạt tính sinh học (chống oxy hóa, chống viêm, hạ huyết áp, chống khối u), nhưng các nghiên cứu chuyên sâu tại Việt Nam về thành phần hóa học và các tác dụng sinh học liên quan đến chống tiểu đường, béo phì và ung thư còn hạn chế.
Mục tiêu của luận án là nghiên cứu thành phần hóa học từ phần trên mặt đất của cây Râu mèo và đánh giá hoạt tính sinh học của các hợp chất phân lập được theo hướng chống tiểu đường và ung thư. Phương pháp nghiên cứu bao gồm việc thu thập mẫu, chiết xuất, phân lập bằng các kỹ thuật sắc ký (TLC, CC, HPLC) và xác định cấu trúc hóa học bằng các phương pháp phổ (IR, UV, NMR 1D/2D, MS). Hoạt tính sinh học được đánh giá qua khả năng ức chế enzyme PTP1B, tăng cường hấp thụ đường 2-NBDG trên tế bào mỡ 3T3-L1 và ức chế sự sinh trưởng của các dòng tế bào ung thư vú người (MCF-7, MCF7/TAMR, MDA-MB-231).
Kết quả nghiên cứu đã phân lập và xác định cấu trúc của 40 hợp chất tự nhiên, trong đó có một hợp chất mới là orthospilarate (B2). Các hợp chất này bao gồm 08 phenylpropanoid (B1-B8), 07 dẫn xuất axit benzoic (B10-B17), 17 flavonoid (B9, E18-E33) và 07 pimarane-diterpen (C34-C40). Đánh giá hoạt tính sinh học cho thấy: hầu hết các phenylpropanoid (B1-B8) và pimarane-diterpen (C34-C40) thể hiện hoạt tính ức chế PTP1B mạnh; bốn flavonoid (E30-E33) cũng cho thấy hoạt tính ức chế PTP1B đáng kể. Tất cả 17 dẫn xuất phenylpropanoid (B1-B17) và pimarane-diterpen (C34-C40) đều có tác dụng tăng cường hấp thụ đường 2-NBDG, với B1 (axit lithospermic) cho hiệu quả mạnh nhất. Bốn flavonoid (E30-E33) cũng cho thấy hoạt tính gây độc tế bào đáng kể trên cả ba dòng tế bào ung thư vú thử nghiệm, với giá trị IC50 tương đương tamoxifen.
Luận án đã công bố 07 bài báo khoa học, trong đó có 02 bài báo quốc tế uy tín (Q1, Q2).