Nghiên cứu đối thoại xã hội trong quan hệ lao động tại các doanh nghiệp may ở Việt Nam
Quan hệ lao động
Luận án "Nghiên cứu đối thoại xã hội trong quan hệ lao động tại các doanh nghiệp may ở Việt Nam" được thực hiện với tính cấp thiết cao, cả về lý luận và thực tiễn. Về lý luận, đối thoại xã hội (ĐTXH) là nội hàm cốt lõi của quan hệ lao động (QHLĐ), đóng vai trò "chìa khóa" làm lành mạnh hóa QHLĐ, giảm xung đột, đảm bảo quyền cơ bản của người lao động (NLĐ) và thúc đẩy sự phát triển bền vững của doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Về thực tiễn, ngành may mặc là ngành kinh tế chủ lực của Việt Nam, sử dụng nhiều lao động phổ thông, có độ nhạy cảm cao về QHLĐ; tuy nhiên, tình hình ĐTXH tại các doanh nghiệp may còn nhiều hạn chế, mang tính hình thức, đối phó và mức độ lan tỏa của Thỏa ước lao động tập thể ngành (TƯLĐTT ngành) còn thấp. Đề tài này cũng phù hợp với chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước về thúc đẩy QHLĐ hài hòa.
Nghiên cứu đặt ra ba câu hỏi chính: (i) Khung nghiên cứu về ĐTXH trong QHLĐ tại doanh nghiệp và các yếu tố ảnh hưởng; (ii) Thực trạng ĐTXH tại các doanh nghiệp may ở Việt Nam và mức độ tác động của các yếu tố; (iii) Các giải pháp cần thiết để thúc đẩy ĐTXH. Mục tiêu chung là đề xuất các giải pháp và kiến nghị khoa học, thực tiễn nhằm thúc đẩy ĐTXH trong QHLĐ tại các doanh nghiệp may ở Việt Nam. Các mục tiêu cụ thể bao gồm hệ thống hóa lý luận, xác lập khung nghiên cứu, phát triển tiêu chí đánh giá ĐTXH, nhận diện yếu tố ảnh hưởng và xây dựng mô hình nghiên cứu; tìm hiểu kinh nghiệm ĐTXH quốc tế; phân tích thực trạng ĐTXH, kiểm định mô hình, rút ra thành công và hạn chế; và nghiên cứu định hướng, quan điểm để đề xuất giải pháp.
Đối tượng nghiên cứu là các vấn đề lý luận và thực tiễn về ĐTXH trong QHLĐ tại doanh nghiệp nói chung và ngành may ở Việt Nam nói riêng. Phạm vi nghiên cứu bao gồm khảo sát thực tiễn tại 158 doanh nghiệp may ở Việt Nam từ năm 2015-2020, tập trung vào ĐTXH tập thể giữa người sử dụng lao động (NSDLĐ) và tổ chức đại diện NLĐ (TCĐDNLĐ) qua các khía cạnh trao đổi thông tin, tham khảo ý kiến, thương lượng tập thể (TLTT) và các yếu tố ảnh hưởng như pháp luật lao động (PLLĐ) quốc gia, năng lực cơ quan quản lý nhà nước về lao động (QLNN), năng lực chủ thể QHLĐ, văn hóa doanh nghiệp và TƯLĐTT ngành.
Luận án sử dụng đa dạng các phương pháp nghiên cứu, bao gồm thu thập dữ liệu (nghiên cứu tài liệu, phỏng vấn 22 chuyên gia và 61 đại diện các bên, điều tra 775 phiếu hợp lệ từ 158 doanh nghiệp may, nghiên cứu tình huống tại 02 doanh nghiệp tiêu biểu) và xử lý dữ liệu (thống kê mô tả, định lượng sơ bộ và chính thức với phần mềm SPSS 21 và AMOS 21 để phân tích EFA, CFA, SEM, Bootstrap, tổng hợp, so sánh).
Những đóng góp mới của luận án bao gồm việc hệ thống hóa và xác lập khung lý luận chi tiết về ĐTXH, phát triển hệ thống tiêu chí đánh giá kết quả trao đổi thông tin (05 tiêu chí) và TLTT (04 tiêu chí). Đặc biệt, luận án xây dựng mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố đến ĐTXH, bổ sung biến kiểm soát TƯLĐTT ngành, và thiết lập 05 giả thuyết nghiên cứu. Về thực tiễn, luận án phân tích thực trạng ĐTXH tại các doanh nghiệp may, xác lập phương trình hồi quy tuyến tính, chỉ ra rằng tham gia TƯLĐTT ngành Dệt may có ảnh hưởng tích cực đến chất lượng ĐTXH. Nghiên cứu cũng phân tích các xu hướng, xây dựng quan điểm và đề xuất 04 nhóm giải pháp cụ thể cùng 03 kiến nghị vĩ mô/ngành nhằm thúc đẩy ĐTXH tại các doanh nghiệp may ở Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn 2030.