CHỌN TẠO DÒNG LỢN NÁI ÔNG BÀ TỪ NGUỒN GEN LỢN LANDRACE VÀ YORKSHIRE NHẬP NỘI
DI TRUYỀN VÀ CHỌN GIỐNG VẬT NUÔI
Luận án này tập trung vào việc chọn tạo dòng lợn nái ông bà từ nguồn gen lợn Landrace và Yorkshire nhập nội tại Việt Nam. Bối cảnh nghiên cứu xuất phát từ thực trạng chăn nuôi lợn trong nước còn hạn chế về năng suất sinh sản và sinh trưởng so với các nước tiên tiến, đồng thời các đàn lợn Landrace và Yorkshire nhập khẩu gặp khó khăn trong thích nghi với điều kiện khí hậu nóng ẩm, dẫn đến năng suất sinh sản thấp và khả năng cải thiện năng suất các đàn cụ kỵ bị hạn chế. Do đó, việc nghiên cứu chọn lọc, ổn định các giá trị di truyền tốt trong điều kiện Việt Nam là cần thiết.
Mục tiêu chung của đề tài là chọn tạo được hai dòng lợn nái ông bà (Landrace và Yorkshire) của Việt Nam có năng suất sinh sản và sinh trưởng cao, sử dụng nguồn gen từ Pháp và Mỹ. Để đạt được mục tiêu này, nghiên cứu đã tiến hành tự giao và chọn lọc qua ba thế hệ đối với hai nhóm lợn ông bà Landrace (LVN1, LVN2) và hai nhóm lợn ông bà Yorkshire (YVN1, YVN2). Luận án cũng đánh giá tiềm năng di truyền và giá trị giống của các tính trạng năng suất sinh sản.
Kết quả nghiên cứu đã chọn tạo thành công hai dòng lợn ông bà có năng suất cao. Cụ thể, dòng lợn ông bà Landrace được chọn là LVN2, với khả năng sinh trưởng tốt (tăng khối lượng trung bình 862,75 g/ngày, tỷ lệ nạc 60,32%, tiêu tốn thức ăn 2,47 kgTA/kgTKL), năng suất sinh sản cao và ổn định (13,84 con sơ sinh/ổ, 12,65 con sơ sinh sống/ổ, 12,22 con cai sữa/ổ; 28,47 con cai sữa/nái/năm) và chất lượng tinh dịch tốt ở lợn đực. Dòng lợn ông bà Yorkshire được chọn là YVN2, cũng thể hiện khả năng sinh trưởng tốt (859,47 g/ngày, tỷ lệ nạc 59,83%, tiêu tốn thức ăn 2,46 kgTA/kgTKL), năng suất sinh sản cao và ổn định (13,47 con sơ sinh/ổ, 12,59 con sơ sinh sống/ổ, 12,20 con cai sữa/ổ; 28,42 con cai sữa/nái/năm) và chất lượng tinh dịch tốt ở lợn đực.
Luận án đã ước tính được hệ số di truyền cho các tính trạng số con sơ sinh/ổ, số con sơ sinh sống/ổ, số con cai sữa/ổ, và dự đoán giá trị giống với độ chính xác cao hơn phương pháp chọn lọc kiểu hình truyền thống (cải thiện 13% và 25% độ chính xác), góp phần cung cấp cơ sở khoa học và con giống chất lượng cho ngành chăn nuôi lợn tại Việt Nam.