info@luanan.net.vn
Luận án DOC

Luận án Một số đặc điểm dịch tễ học hội chứng não cấp nghi ngờ do vi rút Banna tại một số địa phương ở Việt Nam

Năm2014
Lĩnh vựcY tế - Sức khoẻ
Ngôn ngữTiếng Việt, Tiếng Anh

Mô tả tài liệu

Tên luận án:

Không được cung cấp trong văn bản.

Ngành:

Không được cung cấp trong văn bản.

Tóm tắt nội dung tài liệu:

Nghiên cứu này tập trung vào Hội chứng não cấp (HCNC) do vi rút, một bệnh lý nghiêm trọng với nhiều nguyên nhân, thường không có thuốc điều trị đặc hiệu (trừ vi rút Herpes simplex), có tỷ lệ tử vong và di chứng thần kinh nặng nề. Trong số khoảng 100 loại vi rút gây HCNC, vi rút Banna đã được xác định và phân lập từ những năm 1987 và 1992.

Đây là nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam chỉ ra tỷ lệ số mắc và đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân HCNC do vi rút Banna. Đồng thời, nghiên cứu cũng xác định tỷ lệ nhiễm vi rút Banna trong quần thể các loài muỗi tại một số địa phương và một số đặc điểm dịch tễ học phân tử của vi rút Banna phân lập được ở Việt Nam. Tính ứng dụng của nghiên cứu là cung cấp các số liệu hoàn chỉnh, góp phần quan trọng vào chẩn đoán, điều trị và phòng ngừa HCNC.

Vi rút Banna được biết đến là tồn tại trong muỗi và có bằng chứng lưu hành rõ ràng ở vật nuôi như lợn, cũng như khả năng tồn tại ở một số loài chim di cư, tạo điều kiện cho sự phát tán vi rút. Véc tơ truyền vi rút Banna là muỗi. Bệnh nhân được chẩn đoán HCNC nghi ngờ do vi rút Banna khi có thay đổi tình trạng tinh thần hoặc dấu hiệu thần kinh (dấu hiệu màng não, rối loạn vận động), và có xét nghiệm phát hiện kháng thể IgM kháng vi rút Banna bằng kỹ thuật MAC-ELISA. Các chủng vi rút Banna phân lập được định loại bằng kỹ thuật RT-PCR và giải trình tự gen.

Nghiên cứu đã thu thập 1.285 mẫu dịch não tủy từ bệnh nhân HCNC nghi ngờ do vi rút trong giai đoạn 2002-2012 tại 9 tỉnh/thành phố. Sau khi loại trừ các nguyên nhân như vi rút Viêm não Nhật Bản (VNNB), ECHO30 và Herpes simplex type 1 và type 4, còn 717 mẫu chưa xác định được nguyên nhân. Sử dụng kỹ thuật ELISA gián tiếp phát hiện IgM, 184 trường hợp (chiếm 25,66% số mẫu chưa rõ nguyên nhân) được xác định dương tính với kháng nguyên vi rút Banna. Tỷ lệ dương tính được ghi nhận ở tất cả các khu vực nghiên cứu, với tỷ lệ cao nhất ở Hà Tây (cũ) là 35,83% và thấp nhất ở Bắc Giang là 13,63%. Về phân bố theo độ tuổi, tỷ lệ mắc cao nhất ở nhóm ≥15 tuổi (28,26%).

Phân tích triệu chứng lâm sàng khi nhập viện cho thấy hầu hết các triệu chứng điển hình của HCNC như đau đầu, nôn, co giật, sốt cao trên 37,5 độ C, thóp phồng, cứng gáy, dấu hiệu Kernig, rối loạn tâm thần và giảm vận động xuất hiện ở bệnh nhân nhiễm vi rút Banna với tỷ lệ cao từ 23,3% đến 78,64%. Thời gian điều trị trung bình và tối đa của HCNC do vi rút Banna tương ứng là 13,5 ngày và 85 ngày, đây là khoảng thời gian điều trị dài nhất so với HCNC do VNNB (trung bình 11,3 ngày) và ECHO30 (7,4 ngày). Tỷ lệ tử vong do HCNC vi rút Banna là 14,6% (15/103 trường hợp), cao hơn so với VNNB (1,7%) và ECHO30 (0%).

Về mặt dịch tễ muỗi, trong tổng số 1.091 mẫu muỗi thu thập được ở các tỉnh thành thuộc miền Bắc, miền Trung, miền Nam và Tây Nguyên, 46 chủng vi rút Banna đã được phân lập, với tỷ lệ phân lập chung là 4,22%. Tỷ lệ phân lập vi rút Banna từ muỗi biến đổi theo vùng, cao nhất ở miền Trung (16,7%) và thấp nhất ở miền Bắc (1,6%). Vi rút Banna được phân lập từ nhiều loài muỗi thuộc giống Culex (Cx. pseudovishnui, Cx. quinquefaciatus, Cx. fuscocephalus, Cx. gelidus, Cx. tritaeniorhynchus, Cx. vishnui), Anopheles (An. vagus) và Aedes (Ar. subalbalus) tại các địa phương như Hà Tây, Bắc Giang, Quảng Bình, Gia Lai, Kon Tum, Đắk Nông, Đắk Lắk và Cần Thơ.

Tài liệu liên quan