ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA CAN THIỆP ĐỘNG MẠCH VÀNH QUA DA BẰNG CỘNG HƯỞNG TỪ TIM TRÊN BỆNH NHÂN HỘI CHỨNG MẠCH VÀNH CẤP
NỘI – TIM MẠCH (Mã số: 62.72.20.25)
Luận án này tập trung đánh giá hiệu quả của can thiệp động mạch vành qua da (CTĐMVQD) trên bệnh nhân hội chứng mạch vành cấp (HCĐMVC) bằng phương pháp cộng hưởng từ tim (CMR), một phương tiện chẩn đoán được xem là "tiêu chuẩn vàng". Mặc dù CTĐMVQD đã phổ biến, tại Việt Nam vẫn còn thiếu các nghiên cứu toàn diện sử dụng CMR để đánh giá hiệu quả trên cấu trúc hình thái, chức năng và tưới máu thất trái. Do đó, đề tài này được tiến hành với các mục tiêu cụ thể.
Nghiên cứu được thực hiện trên 49 bệnh nhân HCĐMVC đã thực hiện CTĐMVQD thành công, với hai lần chụp CMR (căn bản và theo dõi) nhằm đánh giá hiệu quả tổng thể của CTĐMVQD, so sánh hiệu quả giữa các phân nhóm HCĐMVC (có/không ST chênh lên, can thiệp cấp cứu/muộn, tắc nghẽn hoàn toàn/không tắc nghẽn), và xác định mối tương quan giữa độ xuyên thành của tăng tín hiệu muộn trên CMR với sự tái định dạng thất trái và cải thiện chức năng thất trái sau can thiệp ở bệnh nhân STEMI.
Kết quả tổng thể cho thấy CTĐMVQD đã cải thiện chức năng co bóp thất trái toàn bộ lẫn từng vùng, hình thái và tưới máu thất trái. Cụ thể, sau can thiệp, có sự giảm đáng kể bề dày thành thất cuối tâm trương (EDWT), thể tích thất trái cuối tâm thu (LVESV), chỉ số thể tích thất trái cuối tâm thu (LVESVI), khối lượng cơ (MM) và chỉ số khối lượng cơ thất trái (MMI). Đồng thời, giảm số bệnh nhân có khiếm khuyết tưới máu và tắc nghẽn vi mạch trên CMR, cùng với sự cải thiện phân suất tống máu (EF) và độ dày thành từng phân đoạn (SWT).
Phân tích theo nhóm cho thấy bệnh nhân HCĐMVC có ST chênh lên đạt hiệu quả tương tự kết quả tổng thể. Nhóm HCĐMVC không có ST chênh lên chỉ cải thiện chức năng co bóp thất trái toàn bộ mà không thay đổi rõ rệt các thông số hình thái – tưới máu. Cả can thiệp cấp cứu và muộn đều cải thiện chức năng co bóp thất trái, với nhóm can thiệp muộn còn ghi nhận tái định dạng thất trái có lợi. Nhóm can thiệp động mạch vành không tắc nghẽn cho hiệu quả cải thiện hình thái, cấu trúc, tưới máu và chức năng tâm thu từng vùng rõ rệt hơn so với nhóm tắc nghẽn hoàn toàn.
Nghiên cứu cũng xác định mối tương quan thuận giữa chỉ số điểm tăng tín hiệu muộn (DESI) với sự thay đổi chỉ số thể tích thất trái cuối tâm trương, cho thấy sẹo hoại tử càng rộng và xuyên thành thì thất trái càng dãn nhiều sau STEMI. Ngoài ra, chỉ số sống còn cơ tim (MVI) có tương quan thuận với sự cải thiện phân suất tống máu thất trái và độ dày thành từng phân đoạn, nhấn mạnh tầm quan trọng của lượng cơ tim sống sót trước can thiệp. Đây là nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam sử dụng CMR để đánh giá toàn diện hiệu quả CTĐMVQD, cung cấp những đóng góp mới về hiệu quả trên các đối tượng còn đang tranh cãi trên thế giới, dù còn hạn chế về cỡ mẫu.