Đăng nhập để tải tài liệu không giới hạn
Tham gia 8.000+ người dùng Thư Viện Luận Án
Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương
Lê Kiến Ngãi
Luận án ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC LÂM SÀNG, YẾU TỐ NGUY CƠ VÀ MỘT SỐ TÁC NHÂN VI KHUẨN CỦA VIÊM PHỔI THỞ MÁY TRẺ SƠ SINH TẠI BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG
Chuyên ngành: Y tế - Sức khoẻ
Luận án
2015
1Đăng nhập để xem toàn bộ nội dung
Đăng nhập ngayMục lục
1. Lời nói đầu .......................... 3
2. Chương 1: Giới thiệu ............ 7
3. Chương 2: Nội dung nghiên cứu .. 28
4. Kết luận ................................ 70
ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC LÂM SÀNG, YẾU TỐ NGUY CƠ VÀ MỘT SỐ TÁC NHÂN VI KHUẨN CỦA VIÊM PHỔI THỞ MÁY TRẺ SƠ SINH TẠI BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG
DỊCH TỄ HỌC Mã số: 62.72.01.17
Luận án này trình bày những kết quả nghiên cứu mới về đặc điểm dịch tễ học lâm sàng, các yếu tố nguy cơ và tác nhân vi khuẩn của viêm phổi thở máy (VPTM) ở trẻ sơ sinh tại Bệnh viện Nhi Trung ương. Nghiên cứu đã lần đầu tiên xác định tỷ lệ mới mắc VPTM là 25,1%, tỷ suất mật độ mới mắc là 31,7/1000 ngày thở máy và tỷ lệ tử vong là 66,9% trên đối tượng này.
Các biểu hiện lâm sàng và cận lâm sàng của VPTM ở trẻ sơ sinh được mô tả chi tiết, dựa trên việc áp dụng các tiêu chuẩn chẩn đoán của Trung tâm phòng ngừa và kiểm soát bệnh Hoa Kỳ (US-CDC). Theo đó, các biểu hiện đặc trưng bao gồm tổn thương phổi, giảm trao đổi khí và tăng chỉ số máy thở, trong khi các biểu hiện đáp ứng viêm hệ thống được ghi nhận với tỷ lệ thấp. Đặc điểm dịch tễ học lâm sàng gắn liền với VPTM ở trẻ sơ sinh cũng được hệ thống hóa, cho thấy 11,9% là sơ sinh non yếu, 70% nhẹ cân lúc sinh và thời gian thở máy trung bình kéo dài 19,53±1,10 ngày.
Nghiên cứu đã xác định một số yếu tố nguy cơ quan trọng của VPTM ở trẻ sơ sinh, bao gồm việc có truyền máu trong thời gian theo dõi điều trị và thời gian thở máy kéo dài trên 10 ngày. Đặc biệt, nguy cơ VPTM được nhận định là tăng cao khi thời gian thở máy càng kéo dài sau mốc 10 ngày.
Về tác nhân vi khuẩn, luận án đã góp phần mô tả cơ cấu thành phần các vi khuẩn liên quan đến VPTM ở trẻ sơ sinh. Các vi khuẩn hàng đầu được xác định là P.aeruginosa (41,7%), S.aureus (20,0%), K.pneumoniae (15,0%) và A.baumanii (8,3%). Đáng chú ý, nghiên cứu lần đầu tiên ghi nhận S.aureus xuất hiện với tỷ lệ cao 20%, đứng hàng thứ hai trong số các vi khuẩn thường gặp. Luận án cũng cập nhật tình hình kháng kháng sinh của các tác nhân vi khuẩn này, nhấn mạnh tính kháng cao và xu hướng gia tăng tính kháng với các kháng sinh phổ rộng đang là lựa chọn tối ưu trên lâm sàng, như các cephalosporin thế hệ 3, 4 và kháng sinh nhóm carbapenem.
Tải không giới hạn tất cả tài liệu, không cần chờ. Chỉ từ 199.000đ/tháng.
Xem gói hội viên