info@luanan.net.vn
VIP Luận án DOC

Luận án Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, điện cơ và siêu âm Doppler năng lượng trong Hội chứng ống cổ tay

Năm2018
Lĩnh vựcY tế - Sức khoẻ
Ngôn ngữTiếng Việt, Tiếng Anh

Mô tả tài liệu

Tên luận án:

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, ĐIỆN CƠ VÀ SIÊU ÂM DOPPLER NĂNG LƯỢNG TRONG HỘI CHỨNG ỐNG CỔ TAY

Ngành:

Nội xương khớp

Tóm tắt nội dung tài liệu:

Luận án này tập trung nghiên cứu Hội chứng ống cổ tay (HCOCT), một tổn thương thần kinh ngoại vi phổ biến, với mục tiêu mô tả đặc điểm lâm sàng, điện cơ và siêu âm Doppler năng lượng, đồng thời khảo sát mối liên quan giữa các đặc điểm này. HCOCT được chẩn đoán dựa trên lâm sàng, điện cơ và siêu âm, với cả ba phương pháp đều bổ sung cho nhau. Các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam về giá trị của siêu âm trong chẩn đoán và phân độ nặng HCOCT còn hạn chế. Do đó, nghiên cứu này được tiến hành để mô tả chi tiết các đặc điểm này và đánh giá giá trị của siêu âm Doppler năng lượng.

Kết quả lâm sàng cho thấy dị cảm là triệu chứng phổ biến nhất (96%), theo sau là đau bàn tay (35,1%), teo cơ ô mô cái (12,3%) và yếu cơ (8,6%). Các nghiệm pháp Tinel, Phalen và Dukan có tỷ lệ dương tính lần lượt là 67,9%, 63,6% và 52,6%. Đa số bệnh nhân ở mức độ nhẹ và trung bình (82,8%) theo phân độ Mauro Mondelli, với điểm Boston trung bình về cảm giác là 1,82 và vận động là 1,28.

Về đặc điểm điện cơ, các chỉ số có giá trị chẩn đoán cao bao gồm tốc độ dẫn truyền cảm giác (97,7%), hiệu số tiềm cảm giác (89,1%), hiệu số tiềm vận động giữa – trụ (87,7%), thời gian tiềm cảm giác (70,9%) và thời gian tiềm vận động thần kinh giữa (70,5%). Mức độ trung bình chiếm tỷ lệ cao nhất (64,9%) theo phân độ Steven’s.

Siêu âm Doppler năng lượng phát hiện các thay đổi hình thái như dấu hiệu Notch (92,4%), phù dây thần kinh (89,4%) và tăng sinh mạch (62,3%) ở nhóm bệnh, trong khi không xuất hiện ở nhóm chứng. Các chỉ số định lượng như diện tích cắt ngang dây thần kinh giữa ở đầu gần ống cổ tay (12,2 ± 4,6 mm²) và trong ống cổ tay (11,9 ± 4,4 mm²) khác biệt đáng kể so với nhóm chứng. Ngưỡng cắt 9,5 mm² cho diện tích cắt ngang dây thần kinh giữa ở đầu gần ống cổ tay có độ nhạy 75% và độ đặc hiệu 70% trong chẩn đoán HCOCT.

Nghiên cứu cũng chỉ ra mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa phân độ lâm sàng, phân độ điện cơ với các chỉ số siêu âm (diện tích cắt ngang dây thần kinh giữa và hiệu số diện tích). Có mối tương quan thuận giữa mức độ nặng trên lâm sàng và điện cơ với diện tích cắt ngang dây thần kinh giữa và hiệu số diện tích. Tuy nhiên, không có mối liên quan giữa phân độ điện cơ với số điểm mạch trung bình, cũng như giữa phân độ siêu âm với số điểm mạch trung bình.

Tài liệu liên quan