“Nghiên cứu bào chế và sinh khả dụng viên nén glipizid giải phóng kéo dài”
Công nghệ dược phẩm và bào chế thuốc
Luận án "Nghiên cứu bào chế và sinh khả dụng viên nén glipizid giải phóng kéo dài" của tác giả Nguyễn Duy Thư, thuộc chuyên ngành Công nghệ dược phẩm và bào chế thuốc tại Trường Đại học Dược Hà Nội, tập trung vào việc bào chế, đánh giá chất lượng và sinh khả dụng của viên nén glipizid 10 mg giải phóng kéo dài.
Mục tiêu chính của nghiên cứu là bào chế thành công viên glipizid 10 mg giải phóng kéo dài ở quy mô 10.000 viên/lô, đảm bảo độ hòa tan in vitro tương đương với viên đối chiếu. Đồng thời, luận án đặt ra nhiệm vụ xây dựng tiêu chuẩn cơ sở, đánh giá độ ổn định của chế phẩm và đánh giá sinh khả dụng in vivo trên chó thực nghiệm để so sánh với viên đối chiếu.
Quá trình nghiên cứu sử dụng glipizid, hydroxypropyl methylcellulose (HPMC), cellulose acetat, Eudragit S100 cùng các tá dược và thiết bị thường quy. Viên nhân glipizid được bào chế bằng phương pháp dập viên qua tạo hạt ướt, sau đó bao màng kiểm soát giải phóng tự tạo kênh khuếch tán. Các phương pháp đánh giá chất lượng viên bao gồm độ đồng đều khối lượng, định tính, định lượng và khả năng giải phóng, được thực hiện theo Dược điển. Độ ổn định được đánh giá trong 6 tháng ở điều kiện lão hóa cấp tốc và điều kiện thực. Sinh khả dụng in vivo được thực hiện trên chó trưởng thành, sử dụng phương pháp ngẫu nhiên, chéo đôi, đơn liều, hai giai đoạn, với định lượng glipizid trong huyết tương bằng HPLC UV.
Kết quả nghiên cứu cho thấy đã bào chế thành công viên nén glipizid 10mg giải phóng kéo dài ở quy mô 10.000 viên/lô, với thành phần tối ưu gồm viên nhân chứa glipizid kết hợp HPMC K4M và K100LV, cùng màng bao cellulose acetat có tá dược tạo vi lỗ Eudragit S100 và PEG 400, đạt độ hòa tan tương đương viên đối chiếu Ozidia 10mg (f2=67). Quy trình bào chế được xây dựng và thẩm định cho thấy tính ổn định và khả thi, đảm bảo chất lượng đồng đều giữa các lô. Luận án cũng đã xây dựng tiêu chuẩn cơ sở và chứng minh độ ổn định của chế phẩm trong 6 tháng. Đặc biệt, kết quả đánh giá sinh khả dụng trên chó thực nghiệm cho thấy các thông số dược động học như AUC0-24h, Cmax và MRT của viên nghiên cứu và viên đối chiếu là tương đương nhau ở điều kiện đói và đơn liều, khẳng định tiềm năng của chế phẩm.