Tên luận án: Đánh giá kết quả chỉnh hình màng nhĩ xương con đồng thời với phẫu thuật khoét chũm tiệt căn
Ngành: Y học (Tai Mũi Họng)
Luận án nghiên cứu "Đánh giá kết quả chỉnh hình màng nhĩ xương con đồng thời với phẫu thuật khoét chũm tiệt căn" được thực hiện tại Trường Đại học Y Hà Nội, với người hướng dẫn khoa học là PGS. TS. Nguyễn Tấn Phong. Đề tài tập trung vào viêm tai giữa mạn tính có cholesteatoma, một bệnh lý nguy hiểm do khả năng phá hủy xương, gây biến chứng và tái phát cao sau phẫu thuật. Luận án đặt ra hai mục tiêu chính: mô tả đặc điểm lâm sàng và hình ảnh tổn thương trên phim cắt lớp vi tính (CLVT) của viêm tai xương chũm mạn tính có cholesteatoma, và đánh giá kết quả chỉnh hình màng nhĩ xương con đồng thời với phẫu thuật khoét chũm tiệt căn (KCTC).
Nghiên cứu được tiến hành trên 67 bệnh nhân phẫu thuật chỉnh hình màng nhĩ xương con kết hợp KCTC tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương từ tháng 04/2013 đến 04/2016. Phương pháp nghiên cứu là tiến cứu mô tả từng ca có can thiệp, sử dụng các phương tiện như nội soi, máy đo thính lực và kính hiển vi vi phẫu. Các bước tiến hành bao gồm thu thập triệu chứng cơ năng, thực thể, thính lực và CLVT trước mổ, sau đó thực hiện phẫu thuật và đánh giá kết quả trong cũng như sau mổ.
Kết quả cho thấy, bệnh nhân nữ mắc nhiều hơn nam (tỷ lệ 1,31:1), tuổi trung bình 35,8, với các triệu chứng phổ biến là chảy tai (91%) và nghe kém (100%). Thủng nhĩ chiếm 62,7%, xẹp nhĩ 37,3%. Thính lực trước mổ trung bình là 49,7 dB (PTA) và 35,03 dB (ABG). Hình ảnh CLVT cho thấy cholesteatoma lan tràn chiếm 52,2%, và 91% bệnh nhân có tổn thương xương con, chủ yếu là tổn thương 2 xương (46,3%).
Về phẫu thuật, khoét chũm từ trước ra sau chiếm ưu thế (68,7%). Trụ dẫn tự thân được sử dụng phổ biến (74,6%). Kết quả sau mổ cho thấy tỷ lệ khô hốc mổ, biểu bì hóa hoàn toàn và màng nhĩ liền đạt mức cao và cải thiện theo thời gian. Ngưỡng nghe đường khí và ABG sau mổ giảm đáng kể so với trước mổ (p<0,01), với PTA trung bình giảm từ 49,7 dB xuống còn 36,47 dB (6 tháng), 37,33 dB (12 tháng) và 37,98 dB (24 tháng). Tỷ lệ ABG ≤ 20 dB đạt 49,3% sau 6 tháng. Biến chứng cholesteatoma tồn dư là 4% sau 12 tháng và 0% sau 24 tháng. Tỷ lệ thành công chung của phẫu thuật là 55,2% sau 6 tháng và 56,9% sau 12 tháng. Luận án góp phần khẳng định hiệu quả của phẫu thuật chỉnh hình màng nhĩ xương con đồng thời với KCTC trong điều trị viêm tai giữa mạn tính có cholesteatoma.