ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ UNG THƯ PHỔI KHÔNG TẾ BÀO NHỎ BẰNG PHẪU THUẬT NỘI SOI CẮT THÙY PHỔI VÀ NẠO HẠCH
Ngoại Lồng Ngực
Luận án "Đánh giá kết quả điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ bằng phẫu thuật nội soi cắt thùy phổi và nạo hạch" nghiên cứu về tính khả thi, an toàn và hiệu quả dài hạn của phương pháp phẫu thuật nội soi lồng ngực (PT NSLN) trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ (UTP KTBN). Nghiên cứu được thực hiện trên 109 trường hợp UTP KTBN tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch và Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM từ tháng 01/2012 đến tháng 12/2016.
Trước đây, phẫu thuật điều trị ung thư phổi chủ yếu là mổ mở ngực kinh điển, gây đau đớn cho bệnh nhân. Với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, PT NSLN đã mở ra một kỷ nguyên mới, tuy nhiên, khả năng nạo hạch triệt căn bằng kỹ thuật này vẫn còn là vấn đề được nhiều tác giả bàn cãi. Tại Việt Nam, PTNS cắt thùy phổi đã được áp dụng, nhưng vấn đề nạo hạch qua nội soi lồng ngực chưa được đề cập nhiều trong các công trình nghiên cứu trong nước.
Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá khả năng nạo hạch của PT NSLN, giá trị của chụp cắt lớp vi tính (CLVT) ngực cản quang trong tiên đoán khả năng nạo hạch, và kết quả sớm, dài hạn của phương pháp này trong điều trị UTP KTBN giai đoạn I, IIA và IIIA (T2a,N2). Nghiên cứu này đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn bằng cách chứng minh khả năng của PT NSLN trong nạo vét triệt căn các nhóm hạch và giá trị của CLVT ngực trong tiên đoán khả năng nạo vét hạch qua nội soi.
Kết quả cho thấy PT NSLN cắt thùy phổi và nạo hạch là khả thi và an toàn, với tỷ lệ tai biến thấp (3,6%) và không có trường hợp tử vong chu phẫu. Đa số kết quả chung của phẫu thuật là tốt (91,7%). Khả năng PT NSLN lấy hết hạch tại các vị trí hạch trong mổ cao (90,3%), tuy nhiên, việc nạo vét triệt để qua NSLN gặp khó khăn chủ yếu tại vị trí hạch 10 (cả hai bên) và hạch 4 (bên trái). Kích thước hạch càng lớn thì khả năng PT lấy hết hạch càng thấp, và hầu hết các vị trí hạch đều khó phẫu thuật lấy hết khi nghi ngờ di căn trên CLVT.
Về kết quả dài hạn, tỷ lệ sống thêm toàn bộ 5 năm của UTP giai đoạn IA, IB cao hơn đáng kể so với giai đoạn IIA và IIIA. Thời gian sống thêm toàn bộ của nhóm PT lấy được hết hạch dài hơn đáng kể so với nhóm phẫu thuật không lấy được hết hạch. Các yếu tố ảnh hưởng đến thời gian sống thêm bao gồm kích thước hạch, số lượng hạch di căn, kích thước và độ biệt hóa của khối u.
Luận án kết luận rằng PT NSLN cắt thùy phổi và nạo hạch trong điều trị UTP KTBN là khả thi, an toàn và hiệu quả, tương đương với phẫu thuật mở ngực kinh điển. Kiến nghị đưa phương pháp này vào áp dụng thường quy tại các trung tâm phẫu thuật lồng ngực trong nước, đồng thời cần thận trọng với những trường hợp khó khăn trong nạo vét hạch.