NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, MỘT SỐ XÉT NGHIỆM, SIÊU ÂM VÀ MÔ BỆNH HỌC BỆNH GAN NHIỄM MỠ
Nội tiêu hóa
Bệnh gan nhiễm mỡ (GNM), tình trạng tích tụ chất béo bất thường trong tế bào gan, đang gia tăng tại Việt Nam và có thể tiến triển âm thầm từ nhiễm mỡ đơn thuần đến viêm gan nhiễm mỡ (VGNM) và xơ gan. Nhận thấy sự thiếu hụt các nghiên cứu chuyên sâu, đặc biệt là những nghiên cứu sử dụng sinh thiết gan làm tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán, luận án này được thực hiện với hai mục tiêu chính. Thứ nhất là khảo sát đặc điểm lâm sàng, một số xét nghiệm, siêu âm và mô bệnh học (MBH) trong bệnh GNM. Thứ hai là tìm hiểu mối liên quan giữa các yếu tố lâm sàng, xét nghiệm, siêu âm với hình thái tổn thương MBH và giá trị của một số phương pháp chẩn đoán không xâm lấn trong bệnh GNM.
Luận án có cấu trúc 136 trang, bao gồm Đặt vấn đề, Tổng quan, Đối tượng phương pháp nghiên cứu, Kết quả nghiên cứu, Bàn luận, Kết luận và Kiến nghị, cùng với 51 bảng, 16 biểu đồ, 19 hình và 129 tài liệu tham khảo. Đây là nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam đánh giá chi tiết tổn thương MBH của bệnh GNM, cung cấp kết quả toàn diện về đặc điểm lâm sàng, xét nghiệm, siêu âm và tổn thương MBH của GNM nói chung, đồng thời phân biệt sự khác nhau giữa GNM do rượu và không do rượu. Luận án cũng đánh giá mối liên quan giữa lâm sàng, xét nghiệm, siêu âm với mức độ tổn thương MBH. Đặc biệt, đề tài đã chỉ ra giá trị của các phương pháp chẩn đoán không xâm lấn như chỉ số APRI, FIB-4, Forns trong chẩn đoán xơ hóa gan, và chỉ số ANI trong phân biệt GNM do rượu và không do rượu.
Kết quả nghiên cứu trên 102 bệnh nhân GNM cho thấy GNM không do rượu chiếm 42,2%, GNM do rượu chiếm 33,3%. Giai đoạn VGNM chiếm ưu thế (83,3%). Bệnh nhân có tuổi trung bình 49,77 ± 11,89, tỷ lệ nam:nữ là 2:1. Tỷ lệ tăng vòng bụng là 52%, thừa cân 35,3%, béo phì 32,4%, với nhóm GNM không do rượu có BMI trung bình và tỷ lệ thừa cân, béo phì cao hơn. 34,3% bệnh nhân không có triệu chứng lâm sàng, các triệu chứng phổ biến là mệt mỏi (41,2%), chướng bụng (28,4%). GNM do rượu có nhiều triệu chứng lâm sàng, hoạt độ AST và GGT trung bình cao hơn, cũng như tỷ lệ xơ hóa khoảng cửa và mức độ xơ hóa gan trung bình nặng cao hơn đáng kể so với GNM không do rượu. Về mô bệnh học, thoái hóa mỡ hạt to chiếm 63,7%, và hầu hết bệnh nhân (95%) có viêm tiểu thùy gan. Các phương pháp nhuộm Trichrome Masson và Vimentin cho thấy tỷ lệ xơ hóa cao hơn nhuộm HE, với phần lớn bệnh nhân đã có xơ hóa gan.