NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG KỸ THUẬT CẮT NIÊM MẠC QUA NỘI SOI ỐNG MỀM TRONG ĐIỀU TRỊ THƯƠNG TỔN TÂN SINH CỦA NIÊM MẠC ĐẠI TRỰC TRÀNG
Ngoại tiêu hóa
Luận án "Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật cắt niêm mạc qua nội soi ống mềm trong điều trị thương tổn tân sinh của niêm mạc đại trực tràng" của Nguyễn Tạ Quyết, chuyên ngành Ngoại tiêu hóa, được hoàn thành vào năm 2019 tại Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh. Thương tổn tân sinh niêm mạc đại trực tràng là những thay đổi hình thái học, cấu trúc và tế bào bất thường, có nguy cơ tiến triển thành xâm lấn và di căn. Kỹ thuật cắt niêm mạc qua nội soi ống mềm đã được áp dụng từ thập niên 90 và được xem là phương pháp điều trị đầu tay cho các thương tổn tân sinh không cuống, đặc biệt có ý nghĩa với bệnh nhân lớn tuổi nhằm tránh phẫu thuật. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định tính khả thi và ứng dụng của kỹ thuật này trong điều kiện thực tiễn tại Việt Nam.
Mục tiêu của luận án là mô tả đặc điểm nội soi, mô bệnh học và phân tích các mối liên quan của thương tổn tân sinh niêm mạc đại trực tràng, đồng thời đánh giá kết quả của phương pháp cắt niêm mạc qua nội soi ống mềm trong điều trị các thương tổn này cùng các yếu tố liên quan. Luận án đã xác lập được các đặc điểm mô bệnh học, tính khả thi và an toàn của kỹ thuật cắt niêm mạc qua nội soi ống mềm. Các thương tổn tân sinh niêm mạc không cuống đại trực tràng được xác định là có nguy cơ cao, tiềm ẩn ung thư biểu mô, do đó việc loại bỏ chúng là cần thiết. Kỹ thuật này mang lại phương pháp xâm hại tối thiểu, có thể thay thế phẫu thuật, giúp giảm thời gian nằm viện, tai biến, biến chứng và chi phí điều trị. Tỷ lệ tái phát sau cắt niêm mạc cũng được ghi nhận là thấp và có thể được điều trị lại bằng kỹ thuật tương tự.
Kết quả nghiên cứu trên 112 thương tổn tân sinh niêm mạc đại trực tràng cho thấy 77,6% thương tổn phân bố tại đại tràng chậu hông và trực tràng. Kích thước thương tổn có liên quan thuận với độ loạn sản cao (p = 0,037), và thương tổn týp 0-II có tỷ lệ loạn sản cao hơn týp 0-I (p = 0,004). Kỹ thuật cắt niêm mạc đạt tỷ lệ thành công 96%. Biến chứng chảy máu sau thủ thuật chỉ 2,5% và không có trường hợp thủng đại tràng. Các thương tổn kích thước trung bình (95,6%) và týp 0-Is (93,5%) chủ yếu được cắt trọn. Tỷ lệ tái phát thấp ở mức 1,2% sau 13 tháng theo dõi, và các trường hợp tái phát đều được can thiệp thành công lần 2. Với những kết quả tích cực này, luận án kiến nghị kỹ thuật cắt niêm mạc qua nội soi ống mềm nên được áp dụng như biện pháp đầu tay trong điều trị thương tổn tân sinh niêm mạc không cuống đại trực tràng tại các cơ sở y tế chuyên sâu.