Nghiên cứu thực trạng, một số yếu tố liên quan đến nhiễm giun lươn Strongyloides spp và kết quả điều trị bằng ivermectin tại huyện Đức Hoà, tỉnh Long An, năm 2017 – 2018
Thông tin về ngành học của luận án không được cung cấp trong văn bản.
Nghiên cứu này khảo sát thực trạng nhiễm giun lươn Strongyloides spp, các yếu tố liên quan và hiệu quả điều trị bằng ivermectin tại huyện Đức Hoà, tỉnh Long An từ năm 2017 đến 2018. Giun lươn là tác nhân truyền nhiễm mạn tính, bị lãng quên nhưng gây bệnh cảnh đa dạng và khó chẩn đoán, điều trị. Khu vực Đức Hoà, dù tiếp giáp vùng lưu hành cao như Củ Chi (Tp. HCM), lại chưa có nghiên cứu chuyên sâu về bệnh này.
Đề tài đặt ra ba mục tiêu chính: xác định tình trạng và yếu tố liên quan đến nhiễm giun lươn ở người dân Đức Hoà; xác định loài giun lươn gây bệnh bằng hình thái và sinh học phân tử; và mô tả triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng, đánh giá kết quả điều trị bằng ivermectin liều duy nhất.
Nghiên cứu được thực hiện trên 1.190 người dân tại 5 địa điểm ở huyện Đức Hoà. Phương pháp bao gồm nghiên cứu ngang mô tả, can thiệp điều trị không đối chứng, sử dụng phỏng vấn, xét nghiệm phân trực tiếp, nuôi cấy Harada Mori cải tiến, realtime PCR đa mồi, giải trình tự gen, xét nghiệm ELISA và đếm bạch cầu ái toan.
Kết quả cho thấy tỷ lệ nhiễm giun lươn chung tại huyện Đức Hoà là 6,64%, được xếp vào vùng lưu hành của bệnh. Các yếu tố liên quan đáng kể bao gồm giới tính nam (nguy cơ cao hơn 3,26 lần so với nữ), độ tuổi trên 60 (cao hơn 2,89 lần), tình trạng kinh tế nghèo/cận nghèo (cao hơn 2,08 lần), nghề nông nghiệp (cao hơn 2,07 lần), sử dụng hố xí không hợp vệ sinh (cao hơn 3,3 lần) và thói quen tiếp xúc đất trực tiếp (cao hơn 2,69 lần).
Về thành phần loài, nghiên cứu đã phát hiện và xác định hai loài giun lươn gây bệnh là Strongyloides stercoralis (chiếm ưu thế 97,1%) và Strongyloides ratti (chiếm 2,9% đồng nhiễm và 2,9% đơn nhiễm). Đây là lần đầu tiên S. ratti có nguồn gốc từ động vật được xác định ở người dân Đức Hoà bằng kỹ thuật sinh học phân tử. Chẩn đoán hình thể chỉ xác định được giống Strongyloides spp.
Các triệu chứng lâm sàng kinh điển ghi nhận gồm đau bụng (73,4%), mày đay (57%) và tiêu chảy (41,8%). Tăng bạch cầu ái toan trong máu được ghi nhận ở 59,5% bệnh nhân. Hiệu quả điều trị của ivermectin liều duy nhất đạt 87,7% (từ giảm đến khỏi bệnh), với tỷ lệ sạch ấu trùng trong phân là 94,7% sau 6 tuần. Các tác dụng phụ ghi nhận nhẹ và tự khỏi.
Những đóng góp của luận án bao gồm cung cấp số liệu khoa học về thực trạng nhiễm giun lươn tại Đức Hoà, mô tả chi tiết triệu chứng, xác định hiệu quả điều trị của ivermectin, và lần đầu tiên phát hiện S. ratti ở người tại khu vực này. Đề tài kiến nghị tăng cường phòng chống bệnh dựa trên các yếu tố nguy cơ, ứng dụng realtime PCR trong chẩn đoán và ivermectin trong điều trị, đồng thời phát triển các nghiên cứu sâu hơn.