XÁC ĐỊNH MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NGOẠI HÌNH, KHẢ NĂNG SẢN XUẤT VÀ ĐÁNH GIÁ SAI KHÁC DI TRUYỀN CỦA VỊT SÍN CHÉNG
Chăn nuôi
Luận án tiến sĩ này tập trung vào việc nghiên cứu vịt Sín Chéng, một giống vịt bản địa quý của Việt Nam, nhằm phục vụ công tác bảo tồn, khai thác và phát triển. Đề tài xuất phát từ sự cần thiết phải có các luận chứng khoa học về đặc điểm ngoại hình, khả năng sản xuất và mức độ đa dạng, quan hệ di truyền của vịt Sín Chéng với các giống vịt bản địa khác.
Mục tiêu nghiên cứu là xác định các đặc điểm ngoại hình, khả năng sản xuất của vịt Sín Chéng và mối quan hệ di truyền với một số vịt bản địa khác, từ đó khai thác và phát triển hiệu quả nguồn gen này. Công trình này là nghiên cứu có hệ thống đầu tiên tại Việt Nam về các đặc điểm ngoại hình, khả năng sản xuất và đa dạng di truyền của vịt Sín Chéng, cung cấp cơ sở khoa học cho công tác chọn lọc, nghiên cứu và giảng dạy.
Nghiên cứu được thực hiện trên ba thế hệ vịt Sín Chéng, đánh giá các đặc điểm ngoại hình, tốc độ mọc lông, khối lượng cơ thể, khả năng sinh sản (tỷ lệ nuôi sống, tuổi đẻ, khối lượng trứng, năng suất trứng, tiêu tốn thức ăn cho trứng, tỷ lệ trứng có phôi và ấp nở). Đồng thời, luận án so sánh khả năng sinh trưởng, cho thịt và chất lượng thịt của vịt Sín Chéng ở hai phương thức nuôi (bán chăn thả và nuôi nhốt), cùng với đánh giá sự ưa thích của người tiêu dùng.
Kết quả cho thấy vịt Sín Chéng có các đặc điểm ngoại hình đặc trưng theo tuổi và giới tính. Khối lượng cơ thể ở 22 tuần tuổi đạt 2273,25-2350,62 g/con đối với vịt trống và 2164,29-2250,75 g/con đối với vịt mái. Năng suất trứng trung bình đạt 153,75-164,05 quả/mái/73 tuần đẻ. Phương thức nuôi bán chăn thả cho năng suất trứng cao hơn (91,80 quả/mái/23 tuần đẻ so với 88,07 quả ở nuôi nhốt) và tiêu tốn thức ăn cho trứng thấp hơn (3,94 kg/10 trứng so với 4,26 kg). Về chất lượng thịt, nuôi bán chăn thả có tỷ lệ mỡ bụng thấp hơn, protein và khoáng cao hơn, được người tiêu dùng đánh giá ngon hơn. Về di truyền, vịt Sín Chéng có tính đa dạng di truyền cao (trung bình 9,80 alen/locus, tần số dị hợp tử mong đợi 0,69) và có sự sai khác di truyền riêng biệt, phân bố thành một nhánh riêng trong cây phát sinh chủng loài so với vịt Bầu Bến, Mường Khiêng và Minh Hương.
Luận án khẳng định vịt Sín Chéng là nguồn gen quý, có sự đa dạng di truyền và khác biệt rõ rệt so với các quần thể vịt bản địa khác. Đề xuất tiếp tục nghiên cứu chọn lọc và khuyến cáo áp dụng phương thức nuôi bán chăn thả để duy trì chất lượng sản phẩm và thương hiệu.