info@luanan.net.vn
Luận án DOC

Luận án Tiểu từ tình thái cuối phát ngôn trong giao tiếp của người Nam Bộ

Năm2021
Lĩnh vựcKhoa học xã hội
Ngôn ngữTiếng Việt, Tiếng Anh

Mô tả tài liệu

Tên luận án:

TIỂU TỪ TÌNH THÁI CUỐI PHÁT NGÔN TRONG GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI NAM BỘ

Ngành:

Ngôn ngữ Việt Nam

Tóm tắt nội dung tài liệu:

Luận án tập trung nghiên cứu "Tiểu từ tình thái cuối phát ngôn trong giao tiếp của người Nam Bộ", xuất phát từ sự đa dạng và phong phú của hệ thống tiểu từ tình thái (TTTT) trong tiếng Việt, đặc biệt là các biến thể phương ngữ. TTTT đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện các ý nghĩa tình thái đa dạng, tinh tế và sắc thái phương ngữ, góp phần làm rõ bức tranh ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam. Khi được sử dụng, TTTT cuối phát ngôn là một trong những nhân tố quan trọng để thực tại hóa câu, phản ánh thói quen vùng miền, ý thức xã hội về giới, địa vị, tuổi tác, bối cảnh của người giao tiếp. Việc tìm hiểu ngữ nghĩa và chức năng của TTTT giúp làm rõ đặc điểm ngôn ngữ - văn hóa độc đáo của người dân Nam Bộ.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, TTTT cuối phát ngôn trong giao tiếp của người Nam Bộ rất phong phú và đa dạng, với 87 đơn vị, trong đó cấu tạo tổ hợp chiếm ưu thế hơn cấu tạo đơn (47 từ so với 40 từ). Đặc biệt, số lượng TTTT phương ngữ Nam Bộ (55 đơn vị) gần gấp đôi TTTT toàn dân (32 đơn vị). Các TTTT này được người Nam Bộ sử dụng một cách tự nhiên, quen thuộc, có sự khác biệt nhất định về âm, nghĩa và thói quen sử dụng so với TTTT toàn dân. Nghĩa của chúng phong phú, đa dạng, có thể sẵn có hoặc hình thành mới qua sự kết hợp và ngữ cảnh giao tiếp. TTTT cuối phát ngôn xuất hiện thường xuyên trong 5 phạm trù hành động ngôn trung: điều khiển, biểu cảm, cam kết, tuyên bố, trình bày, bao gồm 27 hành động ngôn ngữ tiêu biểu.

Luận án cũng khảo sát tiêu chí lịch sự và giới tính trong việc sử dụng TTTT. Nhìn chung, cả nam và nữ đều dùng TTTT cuối phát ngôn phổ biến, thể hiện tính lịch sự và biểu cảm trong giao tiếp. Tuy nhiên, nữ giới sử dụng TTTT, đặc biệt là các tổ hợp TTTT phương ngữ như "thấy mồ", "chớ bộ", "mèn ơi", với tần suất cao hơn đáng kể so với nam giới (nữ giới dùng TTTT kết hợp cao gần gấp đôi nam, và hơn 4,5 lần đối với ba tổ hợp đặc biệt trên). Nữ giới cũng có xu hướng dùng từ hô gọi (THG) đi kèm TTTT và đặt THG trước TTTT nhiều hơn, thể hiện sự quan tâm đến người nghe, trong khi nam giới có xu hướng đặt THG sau TTTT, nhấn mạnh thông điệp.

Mục lục chi tiết:

  • Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí thuyết của đề tài
  • Chương 2: Nhận diện tiểu từ tình thái cuối phát ngôn và ngữ nghĩa của chúng trong giao tiếp của người Nam Bộ
  • Chương 3: Đặc điểm sử dụng các tiểu từ tình thái cuối phát ngôn trong giao tiếp của người Nam Bộ xét theo hành động ngôn ngữ
  • Chương 4: Đặc điểm sử dụng các tiểu từ tình thái cuối phát ngôn trong giao tiếp của người Nam Bộ xét theo phân tầng xã hội về giới tính

Tài liệu liên quan