info@luanan.net.vn
Luận án DOC

Luận án Thực trạng viêm não Nhật Bản, một số đặc điểm của véc tơ và tác nhân gây bệnh tại khu vực Tây Nguyên, 2005-2018

Năm2020
Lĩnh vựcY tế - Sức khoẻ
Ngôn ngữTiếng Việt, Tiếng Anh

Mô tả tài liệu

Tên luận án:

THỰC TRẠNG VIÊM NÃO NHẬT BẢN, MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA VÉC TƠ VÀ TÁC NHÂN GÂY BỆNH TẠI KHU VỰC TÂY NGUYÊN, 2005 – 2018

Ngành:

Y tế công cộng

Tóm tắt nội dung tài liệu:

Luận án nghiên cứu về bệnh viêm não Nhật Bản (VNNB) tại khu vực Tây Nguyên từ năm 2005 đến 2018, nhằm giải quyết sự thiếu hụt các nghiên cứu tổng thể về thực trạng bệnh, véc tơ truyền bệnh và cấu trúc phân tử của vi rút VNNB trong khu vực. Bệnh VNNB là một vấn đề y tế đáng quan ngại trên toàn cầu với khoảng 67.900 trường hợp mắc hàng năm. Tại Việt Nam, bệnh đã được ghi nhận từ năm 1959, và ở Tây Nguyên, các ca bệnh VNNB đã được xác định từ những năm 2000-2001.

Mục tiêu của nghiên cứu là mô tả thực trạng VNNB tại 4 tỉnh khu vực Tây Nguyên, xác định thành phần loài, phân bố và tỷ lệ nhiễm vi rút VNNB của một số loài muỗi thuộc giống Culex, và mô tả một số đặc điểm phân tử của vi rút VNNB phân lập được. Đề tài cung cấp một công trình nghiên cứu có hệ thống, đầy đủ về tình hình VNNB, véc tơ truyền bệnh và đặc điểm phân tử vi rút tại khu vực này.

Kết quả cho thấy, trong số 713 trường hợp hội chứng viêm não cấp (HCVNC) nghi ngờ do vi rút, 168 trường hợp được xác định là VNNB (chiếm 23,56%) với tỷ lệ mắc trung bình là 0,29/100.000 dân. Bệnh VNNB được ghi nhận ở 33/50 (66%) huyện/thành phố/thị xã của 4 tỉnh, trong đó Gia Lai có tỷ lệ cao nhất (88,24%). Bệnh xuất hiện quanh năm, đạt đỉnh vào tháng 6, và thường gặp ở nhóm tuổi dưới 15 (69,64%) cũng như nam giới (59,52%). Người dân tộc Gia Rai có tỷ lệ mắc cao nhất (70,83%).

Nghiên cứu đã xác định 9 loài muỗi Culex, trong đó Cx. tritaeniorhynchus (43,06%) và Cx. vishnui (36,17%) là hai loài chiếm ưu thế. Có 9 chủng vi rút được phân lập từ muỗi Culex và xác định dương tính bằng kỹ thuật RT-PCR. Bốn chủng từ năm 2007 được xác định là vi rút VNNB genotype I. Năm chủng từ năm 2018 là các chủng vi rút mới, có độ tương đồng 99% với vi rút Manglie (MH807827.1). Tỷ lệ nhiễm tối thiểu của vi rút VNNB ở Cx. tritaeniorhynchus là 0,33% và Cx. vishnui là 0,39%. Phân tích phân tử của 4 chủng VNNB genotype I cho thấy sự khác biệt về trình tự nucleotide vùng gen E từ 1,4% đến 4,8% so với các chủng khác. Có 8 vị trí acid amin thay đổi không bảo tồn, với hai kiểu haplotype phổ biến là NKSS và SKSS, trong đó haplotype NKSS chứa asparagine (N) ở vị trí acid amin 123, có thể ảnh hưởng đến khả năng nhân lên và gây bệnh của vi rút.

Mục lục chi tiết:

  • Đặt vấn đề (2 trang)
  • Tổng quan tài liệu (33 trang)
  • Đối tượng và phương pháp nghiên cứu (19 trang)
  • Kết quả nghiên cứu (38 trang)
  • Bàn luận (28 trang)
  • Kết luận (2 trang)
  • Khuyến nghị (1 trang)

Tài liệu liên quan