Thực trạng mắc sốt rét ở dân di biến động tại một số xã sốt rét lưu hành nặng tỉnh Đắk Nông, hiệu quả can thiệp bằng “Điểm sốt rét" (2015 - 2016)
Thông tin không được cung cấp trong văn bản.
Sốt rét vẫn là một gánh nặng bệnh tật toàn cầu, đặc biệt tại khu vực châu Phi và châu Á, trong đó có Việt Nam. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2016, ước tính có 216 triệu trường hợp mắc và 445.650 trường hợp tử vong. Chương trình Quốc gia phòng chống sốt rét đã và đang nỗ lực tiếp cận dân di biến động, nhưng vẫn đối mặt với nhiều khó khăn do tập quán làm ăn, sinh hoạt không tập trung, sống ở vùng sâu, vùng xa, thiếu đường giao thông. Tỉnh Đắk Nông, đặc biệt là hai huyện Cư Jút và Tuy Đức, có tình hình dân di biến động lớn, nhiều người thường xuyên đi rừng, ngủ rẫy, là đối tượng chủ yếu mắc sốt rét.
Đề tài được thực hiện nhằm mô tả thực trạng mắc sốt rét và các yếu tố liên quan ở dân di biến động tại 4 xã sốt rét lưu hành nặng tỉnh Đắk Nông năm 2015, đồng thời đánh giá hiệu quả can thiệp bằng mô hình “Điểm sốt rét” trong năm 2016. Nghiên cứu áp dụng phương pháp dịch tễ học mô tả (nghiên cứu ngang và dọc) và can thiệp cộng đồng có đối chứng. Các kết quả cung cấp bằng chứng khoa học để hoàn thiện mô hình “Điểm sốt rét”, góp phần nhân rộng dịch vụ chăm sóc sức khỏe phòng chống sốt rét đến nhóm dân di biến động.
Kết quả nghiên cứu năm 2015 cho thấy, tỷ lệ mắc sốt rét lâm sàng là 1,94%, trong đó tỷ lệ mắc mới tích lũy ở dân di biến động là 1,07%, cao nhất ở nhóm giao lưu biên giới (2,35%). Các yếu tố nguy cơ chính bao gồm giới tính nam (nguy cơ cao gấp 5,80 lần), trình độ học vấn thấp (4,74 lần), hiểu biết kém về nguyên nhân và cách phòng tránh bệnh (10,24 và 8,45 lần), không ngủ màn thường xuyên (5,94 lần), và đặc biệt là thói quen đi rừng, ngủ rừng thường xuyên (26,01 lần).
Sau can thiệp "Điểm sốt rét" năm 2016, tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng sốt rét ở nhóm can thiệp giảm từ 0,25% xuống 0% (nghiên cứu ngang). Tỷ lệ mắc mới tích lũy giảm từ 1,13% (2015) xuống 0,46% (2016) ở nhóm can thiệp, trong khi nhóm đối chứng tăng. Hiệu quả can thiệp tổng thể đạt 152,23%. Kiến thức và hành vi ngủ màn thường xuyên của người dân trong nhóm can thiệp cũng tăng đáng kể. Mô hình được cộng đồng đánh giá cao về sự cần thiết, với chi phí duy trì một điểm trung bình 3.440.000đ/tháng.
Đề xuất mở rộng và duy trì các “Điểm sốt rét” tại các khu vực thích hợp có dân di biến động, đồng thời tăng cường truyền thông giáo dục sức khỏe liên tục về phòng chống sốt rét cho nhóm đối tượng này.