Thực trạng thẻ bảo hiểm y tế, nhu cầu và khả năng đáp ứng chăm sóc y tế cho người nhiễm HIV đang điều trị ARV và hiệu quả can thiệp hỗ trợ thẻ bảo hiểm y tế tại Hà Nội
Y tế công cộng
Luận án này tập trung vào tính cấp thiết của việc điều trị thuốc kháng vi-rút (ARV) cho người nhiễm HIV, xem xét vai trò của Bảo hiểm y tế (BHYT) trong việc đảm bảo bền vững nguồn tài chính khi viện trợ quốc tế giảm. Mặc dù ARV mang lại lợi ích lớn, Việt Nam đã và đang mở rộng điều trị miễn phí, nhưng tỷ lệ bệnh nhân HIV/AIDS có thẻ BHYT còn rất thấp (15% tổng số người nhiễm vào cuối tháng 10 năm 2015), đặc biệt trong các nhóm đối tượng nghèo và cận nghèo. Điều này đặt ra tầm quan trọng của việc hỗ trợ chăm sóc y tế cho người điều trị ARV ngoại trú, một vấn đề chưa được nghiên cứu nhiều tại Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng.
Nghiên cứu được thực hiện với hai mục tiêu chính: (1) Mô tả thực trạng thẻ BHYT, nhu cầu và khả năng đáp ứng chăm sóc y tế cho người nhiễm HIV đang điều trị ARV tại thành phố Hà Nội năm 2012; và (2) Đánh giá hiệu quả can thiệp hỗ trợ thẻ BHYT cho người nhiễm HIV/AIDS đang điều trị ARV ngoại trú tại Trung tâm Y tế Quận Thanh Xuân – Hà Nội năm 2013. Đây là công trình nghiên cứu có hệ thống đầu tiên tại Hà Nội về các đặc trưng nhân khẩu, tỷ lệ hiện nhiễm HIV và các nội dung hỗ trợ chăm sóc, yếu tố liên quan đến nhóm bệnh nhân này. Luận án đã xác định được thực trạng, nhu cầu và khả năng đáp ứng chăm sóc y tế, đồng thời đánh giá hiệu quả can thiệp hỗ trợ thẻ BHYT. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn, góp phần đề xuất các biện pháp can thiệp hỗ trợ điều trị thông qua BHYT và cung cấp dữ liệu phục vụ giảng dạy, nghiên cứu tiếp theo.
Về phương pháp, luận án sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang kết hợp nghiên cứu định tính và định lượng. Cỡ mẫu nghiên cứu mô tả là 3.406 bệnh nhân điều trị ARV ngoại trú tại 10 phòng khám ngoại trú ở Hà Nội vào năm 2012. Nghiên cứu can thiệp được thực hiện trên 126 bệnh nhân tại Trung tâm Y tế Thanh Xuân. Dữ liệu được thu thập từ hồ sơ bệnh án, phỏng vấn bệnh nhân, người nhà, cán bộ y tế, và thảo luận nhóm. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng đa số đối tượng ở độ tuổi sinh sản (30-39 tuổi, 67%), nam giới chiếm ưu thế (67,4%), phần lớn thất nghiệp hoặc làm nghề tự do (68,5%), và có thu nhập thấp. Mặc dù 81,1% bệnh nhân thấy BHYT cần thiết, chỉ 13,6% có thẻ BHYT. Các lý do chính không mua BHYT là sợ lộ danh tính (92,2%), sợ phiền hà (91,6%), sợ bị kỳ thị (86,3%), không biết người nhiễm HIV được hưởng BHYT (85,2%) và không có kinh phí (83,2%). Những bệnh nhân có thẻ BHYT chủ yếu sử dụng cho khám và điều trị các bệnh thông thường (92,1%), nhiễm trùng cơ hội (98,7%) và xét nghiệm lâm sàng (98,5%). Nhu cầu hỗ trợ chăm sóc y tế bao gồm kiến thức, điều trị nhiễm trùng cơ hội và hỗ trợ xã hội.