SỰ LƯU HÀNH VÀ KHẢ NĂNG LY GIẢI CỦA THỰC KHUẨN THỂ TẢ (VIBRIOPHAGE) Ở MÔI TRƯỜNG NƯỚC NGOẠI CẢNH TẠI MỘT SỐ TỈNH MIỀN BẮC VIỆT NAM
Y tế công cộng
Luận án "Sự lưu hành và khả năng ly giải của thực khuẩn thể tả (Vibriophage) ở môi trường nước ngoại cảnh tại một số tỉnh miền Bắc Việt Nam" tập trung giải quyết những thách thức trong dự phòng và điều trị bệnh tả, đặc biệt khi vi khuẩn tả kháng thuốc. Nghiên cứu này là một trong số ít được thực hiện tại Việt Nam, nhằm mô tả sự lưu hành và đánh giá khả năng ly giải của Vibriophage trong môi trường nước ngoại cảnh.
Đề tài đã tiến hành thu thập 800 mẫu nước ngoại cảnh (gồm nước bề mặt và mồi gạc tôm) từ 04 tỉnh miền Bắc Việt Nam (Thái Bình, Hải Phòng, Nam Định, Hà Nội) trong giai đoạn 2018-2019. Kết quả phân lập cho thấy 2% mẫu nước bề mặt và 0,5% mẫu mồi gạc tôm dương tính với Vibriophage, chủ yếu tại Thái Bình và Hải Phòng. Phương pháp PCR cho thấy hiệu quả phát hiện cao hơn đáng kể, với 15,5% mẫu nước bề mặt và 31% mẫu mồi gạc tôm dương tính, phổ biến ở các tỉnh ven biển. PCR cũng có giá trị hơn phương pháp phân lập gấp 23,9 lần trong việc phát hiện thực khuẩn thể tả.
Về khả năng ly giải, nghiên cứu đã đánh giá 36 chủng Vibriophage. Không có chủng nào ly giải được toàn bộ 13 chủng tả thử nghiệm, nhưng chủng H218 cho tỷ lệ ly giải cao nhất (86,11%). Các chủng VP14 và VP28 có khả năng ly giải cả 4 loại chủng vi khuẩn tả cổ điển, El tor, Bengal và chủng tả phân lập tại Việt Nam. Thực khuẩn thể VP04 cho thấy khả năng ly giải tốt các chủng tả Cổ điển, El tor và chủng tả phân lập tại Việt Nam, không ly giải chủng O139 Bengal. Thực khuẩn thể tả hoạt động tối ưu ở nhiệt độ 30°C-37°C và dải pH rộng từ 4.0-10.0, với khả năng ly giải 100% ở độ pha loãng từ 10-1 đến 10-6. Trong môi trường nước ngoại cảnh, Vibriophage có thể tồn tại tới 3 tháng ở nước sông/suối, giếng/ao/hồ và 1 tháng ở nước máy/nước mưa, đồng thời duy trì khả năng ly giải đến 1 tháng tùy loại nguồn nước.
Nghiên cứu đề xuất sơ đồ giám sát cảnh báo dịch tả dựa trên xét nghiệm mẫu nước ngoại cảnh và khuyến nghị tiếp tục giám sát định kỳ, áp dụng thí điểm sơ đồ này, cũng như nghiên cứu sâu hơn về đặc tính của thực khuẩn thể tả để phát triển các chủng tiềm năng trong kiểm soát dịch tả và xử lý nước ô nhiễm, đặc biệt đối với các chủng vi khuẩn tả đa kháng thuốc.