info@luanan.net.vn
Luận án PDF

Luận án Phân tích hiệu quả kinh tế và môi trường của mô hình tôm thâm canh vùng chuyển đổi ven biển Đồng bằng sông Cửu Long

Năm2020
Lĩnh vựcKinh tế - Quản lý
Ngôn ngữTiếng Việt, Tiếng Anh

Mô tả tài liệu

Tên luận án:

Không được cung cấp trong tài liệu.

Ngành:

Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.

Tóm tắt nội dung tài liệu:

Nghiên cứu này tập trung vào sự cần thiết của việc chuyển đổi mô hình sản xuất nông nghiệp tại vùng ven biển Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) do biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn, và sự bất ổn của thị trường, giá bán thấp trong khi giá vật tư tăng cao. Mục tiêu chính là phân tích thực trạng, các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chuyển đổi sang mô hình nuôi tôm thâm canh, đánh giá hiệu quả kinh tế và môi trường, đồng thời đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất và hạn chế rủi ro cho nông hộ.

Nghiên cứu được thực hiện thông qua phỏng vấn trực tiếp 294 nông hộ tại các vùng chuyển đổi ven biển ĐBSCL, sử dụng phương pháp phân tích giới hạn biên ngẫu nhiên một bước để ước lượng hiệu quả. Kết quả cho thấy mô hình nuôi tôm thâm canh mang lại lợi nhuận đáng kể, với mức trung bình 430 triệu đồng/ha/vụ tại Sóc Trăng và 394 triệu đồng/ha/vụ tại Kiên Giang. Hiệu quả kinh tế và môi trường của mô hình này đạt mức khá cao, trung bình lần lượt khoảng 87,8% và 91,77%.

Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chuyển đổi mô hình sản xuất có sự khác biệt giữa hai tỉnh. Tại Sóc Trăng (chuyển từ mía sang tôm), các yếu tố như lao động nữ, vay vốn, tham gia tổ chức, diện tích đất và khoảng cách có ảnh hưởng tỷ lệ nghịch, trong khi trình độ học vấn có ảnh hưởng tỷ lệ thuận. Tại Kiên Giang (chuyển từ lúa-tôm sang tôm thâm canh), khoảng cách từ ruộng đến sông ảnh hưởng tỷ lệ nghịch, còn trình độ học vấn và kinh nghiệm nuôi tôm ảnh hưởng tỷ lệ thuận.

Về hiệu quả kinh tế, mô hình nuôi tôm tại Kiên Giang đạt 89,98%, trong khi Sóc Trăng đạt 86,95%. Điều này cho thấy nông hộ có tiềm năng giảm chi phí đầu tư lần lượt khoảng 10,02% và 13,05% mà không giảm sản lượng. Đối với hiệu quả môi trường, mức trung bình đạt 91,77%, với 89,73% ở Sóc Trăng và 97,02% ở Kiên Giang. Nông hộ có thể giảm lượng đầu vào gây ảnh hưởng môi trường (thức ăn, thuốc, nhiên liệu) khoảng 10,27% (Sóc Trăng) và 2,08% (Kiên Giang) mà không ảnh hưởng đến đầu ra.

Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế bao gồm số ao (tỷ lệ nghịch), diện tích ao và mật độ (tỷ lệ thuận). Đối với hiệu quả môi trường, kinh nghiệm, diện tích ao và mật độ có ảnh hưởng tỷ lệ thuận, trong khi địa bàn và số ao có ảnh hưởng tỷ lệ nghịch.

Nghiên cứu cung cấp cơ sở quan trọng giúp các cơ quan chuyên môn và lãnh đạo ngành nông nghiệp tại Sóc Trăng và Kiên Giang xây dựng giải pháp quản lý chuyển đổi mô hình, nâng cao hiệu quả sử dụng đầu vào và giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Luận án cũng là tài liệu tham khảo giá trị cho quá trình đào tạo các chuyên ngành Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ở bậc đại học và sau đại học.

Tài liệu liên quan