“Nghiên cứu xác định vết một số ma túy tổng hợp nhóm kích thích thần kinh loại amphetamin và ketamin trong tóc và nước tiểu bằng sắc ký khí khối phổ"
Kiểm nghiệm thuốc và độc chất
Luận án tiến sĩ Dược học này tập trung vào việc phát triển và thẩm định các phương pháp phân tích đồng thời các chất ma túy tổng hợp nhóm kích thích thần kinh (ATS) và ketamin trong mẫu tóc và nước tiểu bằng sắc ký khí khối phổ (GC-MS). Nghiên cứu hướng đến ba mục tiêu: xây dựng phương pháp phân tích GC-MS, phát triển quy trình xử lý và chiết xuất mẫu, và ứng dụng phương pháp đã thẩm định để phân tích các mẫu thực tế từ người nghi ngờ sử dụng ma túy.
Đối tượng nghiên cứu bao gồm 09 chất ma túy nhóm ATS và ketamin, cụ thể là amphetamin, methamphetamin, methylenedioxyethylamphetamin, 3,4-methylenedioxyamphetamin, 3,4-methylenedioxymethamphetamin, 4-brom-2,5-dimethoxyamphetamin, 4-methoxyamphetamin, ketamin và norketamin. Các mẫu được phân tích là tóc và nước tiểu từ 51 bệnh nhân nghi ngờ sử dụng ma túy tại Bệnh viện Tâm thần Hà Nội, cùng với mẫu trắng từ Viện Pháp y Quốc gia.
Về phương pháp, chương trình GC-MS được thiết lập trên hệ thống Agilent Technologies 6980N với cột HP5-MS và chế độ ion hóa EI 70 eV. Tác nhân dẫn xuất HFBA được lựa chọn và tối ưu hóa điều kiện dẫn xuất là tỉ lệ HFBA:EtOAc 1:1 (v/v) ở 80 °C trong 40 phút. Quy trình xử lý mẫu tóc và nước tiểu được xây dựng chi tiết, bao gồm các bước ủ mẫu, ly tâm, làm khô và chiết pha rắn (SPE). Độ thu hồi của chất phân tích cao nhất khi chiết ở pH 6,0 (78-90% cho tóc, 74-89% cho nước tiểu).
Phương pháp GC-MS đã được thẩm định toàn diện, chứng minh độ phù hợp hệ thống (RSD thời gian lưu < 1%, RSD diện tích píc < 5%), độ đặc hiệu và chọn lọc tốt, không bị ảnh hưởng đáng kể bởi nền mẫu. Độ tuyến tính được xác lập trong khoảng hàm lượng rộng (5-400 ng/10mg tóc và 10-400 ng/ml nước tiểu) với hệ số tương quan trên 0,99. Độ đúng (85-115%) và độ chính xác (CV < 15%) đạt yêu cầu. Giới hạn phát hiện (LOD: 0,02-0,1 ng/mg tóc, 0,77-4,29 ng/ml nước tiểu) và giới hạn định lượng (LOQ: 0,07-0,32 ng/mg tóc, 2,55-14,14 ng/ml nước tiểu) cho thấy độ nhạy cao. Độ ổn định của các chất cũng được khảo sát và đạt chấp nhận được.
Ứng dụng phương pháp vào phân tích 51 mẫu tóc và 51 mẫu nước tiểu từ bệnh nhân nghi ngờ cho thấy tất cả các mẫu tóc và hầu hết mẫu nước tiểu đều dương tính với ma túy. Nghiên cứu cũng sơ bộ theo dõi tồn dư ATS và ketamin trong một số mẫu tóc, ghi nhận sự giảm hàm lượng sau thời gian bảo quản.