Tên luận án:
Nghiên cứu giá trị của phẫu thuật nội soi ổ bụng trong chẩn đoán và điều trị tổn thương tạng rỗng do chấn thương bụng kín.
Ngành:
Ngoại khoa.
Tóm tắt nội dung tài liệu:
Luận án tập trung vào chấn thương bụng kín (CTBK), một tình trạng lâm sàng phức tạp với thách thức lớn trong chẩn đoán chính xác bằng phương pháp truyền thống. Việc chỉ dựa vào thăm khám lâm sàng dễ dẫn đến bỏ sót tổn thương hoặc thực hiện phẫu thuật thăm dò không cần thiết (mở bụng không có tổn thương). Hiện nay, phẫu thuật nội soi ổ bụng (PTNS) đã được triển khai rộng rãi tại các trung tâm lớn ở Việt Nam, chứng minh tính an toàn, ít biến chứng và khả năng phát hiện, xử trí tổn thương hiệu quả. Tuy nhiên, các nghiên cứu chuyên sâu đánh giá khả năng chẩn đoán và điều trị của PTNS đối với CTBK tại Việt Nam còn hạn chế.
Đề tài được thực hiện với ba mục tiêu chính: (1) Nhận xét một số đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân CTBK; (2) Đánh giá giá trị của PTNS ổ bụng trong chẩn đoán các tổn thương tạng rỗng do CTBK; và (3) Đánh giá kết quả sớm của PTNS ổ bụng trong điều trị các tổn thương tạng rỗng do CTBK.
Nghiên cứu được thực hiện trên 83 bệnh nhân từ tháng 10/2010 đến 05/2015, với đa số là nam giới (85,5%) và tuổi trung bình 38,2 ± 1,4. Tai nạn giao thông là nguyên nhân hàng đầu (78,3%), và 78,3% bệnh nhân nhập viện trong vòng 12 giờ sau chấn thương. Các triệu chứng toàn thân khi nhập viện và các tổn thương phối hợp như chấn thương chi (36,1%), chấn thương ngực (27,7%) được ghi nhận. Khám bụng cho thấy 75,9% có phản ứng thành bụng, nhưng vẫn có 9,6% bệnh nhân có bụng mềm nhưng tồn tại tổn thương tạng rỗng. Các kết quả xét nghiệm máu (hồng cầu, bạch cầu, Hct, SGOT, SGPT...) và X-quang bụng không chuẩn bị (liềm hơi, quai ruột giãn, dịch giữa các quai ruột) cũng được phân tích chi tiết.
Luận án mô tả quy trình phẫu thuật nội soi, bao gồm trang thiết bị, kỹ thuật mổ (vô cảm, tư thế bệnh nhân, vị trí đặt trocart), các tiêu chí đánh giá trong mổ (dịch ổ bụng, phân loại tổn thương theo AAST, biến chứng) và các chỉ số theo dõi sau mổ (thang điểm đau, thời gian trung tiện, sử dụng thuốc, biến chứng PTNS). Nghiên cứu cũng ghi nhận kinh nghiệm ứng dụng PTNS tại Bệnh viện Việt Đức, nơi đã triển khai kỹ thuật này từ cuối năm 2003, với 75% trường hợp được xử trí bằng nội soi đơn thuần và chỉ 14,8% phải chuyển mổ mở. Các tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân khỏi nghiên cứu cũng được nêu rõ, bao gồm các trường hợp chống chỉ định bơm hơi ổ bụng, đa chấn thương nặng hoặc có chỉ định mổ mở cấp cứu rõ ràng.
Mục lục chi tiết:
- Đặt vấn đề (2 trang)
- Chương 1 TỔNG QUAN (37 trang)
- 1.2. Các hình thái tổn thương tạng rỗng trong CTBK
- 1.2.1. Cơ chế tác động
- 1.2.1.1. Cơ chế tác động trực tiếp
- 1.2.1.2. Cơ chế tác động gián tiếp
- 1.2.1.3. Sức ép: Đây là một chấn thương đặc biệt
- 1.2.1.4. Phối hợp các cơ chế
- 1.2.2. Các tổn thương cơ bản và tiến triển
- 1.2.2.1. Tụ máu dưới thanh mạc
- 1.2.2.2. Rách thanh mạc, bao tạng
- 1.2.2.3. Tụ máu, đụng giập nhu mô
- 1.2.3.1. Dạ dày
- 1.2.3.2 Tá tràng
- 1.2.3.3 Ruột non
- 1.2.3.4 Đại tràng
- 1.2.3.5 Bàng quang
- 1.2.3.6 Túi mật
- 1.3. Các phương pháp chẩn đoán vỡ tạng rỗng trong CTBK.
- 1.3.1. Các thăm khám lâm sàng
- Chụp X quang có cản quang:
- Theo đường uống
- Theo đường bơm ngược dòng
- Theo đường tĩnh mạch
- Theo đường động mạch
- Qua đường nội soi
- 1.4.2.1. Những biến chứng chung:
- 1.4.2.2. Các biến chứng liên quan đến gây mê:
- 1.4.2.3. Các biến chứng của bơm hơi ổ bụng:
- 1.4.2.4. Các biến chứng do chọc kim bơm hơi đặt trocart:
- 1.4.2.5. Các tổn thương thành bụng:
- 1.5 Kết quả ứng dụng PTNS trong chẩn đoán và điều trị CTBK
- Đối tượng và phương pháp nghiên cứu (19 trang)
- 2.2.3 Quy trình phẫu thuật
- a. Trang thiết bị và dụng cụ mổ nội soi
- b. Kỹ thuật mổ
- Vô cảm: Gây mê toàn thân, đặt nội khí quản.
- Tư thế BN: BN nằm ngửa, thường để 2 chân dạng, bệnh nhân được cố định chắc vào bàn mổ để khi thay đổi tư thế không làm thay đổi vị trí bệnh nhân.
- Vị trí đặt trocart: Trocart đầu tiên được đặt là trocart 10 dành cho camera luôn được để ở rốn nhằm quan sát các vùng trong ổ bụng được dễ dàng. Trocart đầu tiên được đặt bằng phương pháp mở, mở nhỏ bụng 10mm rồi vào từng lớp rồi đưa trocart vào bằng nòng tù.
- Trong mổ:
- Số lượng trocart được đặt trong mổ.
- Thời gian phẫu thuật (tính bằng phút).
- Đánh giá dịch ổ bụng: vị trí, số lượng, màu sắc dịch ổ bụng.
- Phân loại mức độ tổn thương tạng theo phân loại của AAST.
- Số lượng các tạng có tổn thương phát hiện trong mổ.
- Các biến chứng của gây mê hồi sức trong mổ nội soi.
- Các biện pháp xử trí trong mổ theo tổn thương.
- PTNS điều trị: Sau khi phát hiện, đánh giá các tổn thương.
- Đánh giá sau mổ:
- Đánh giá theo thang điểm đau.
- Thời gian bệnh nhân có trung tiện trở lại sau mổ: đơn vị tính bằng giờ.
- Thời gian sử dụng thuốc giảm đau sau mổ: đơn vị tính bằng giờ.
- Số ngày phải sử dụng kháng sinh sau mổ.
- Các biến chứng của PTNS: nhiễm trùng lỗ trocart, tổn thương tạng thứ phát sau chọc trocart, thoát vị thành bụng sau mổ, chảy máu sau mổ, xì - bục chỗ khâu.
- Kết quả (24 trang)
- 3.1 Đặc điểm dịch tễ của mẫu nghiên cứu
- 3.1.1. Các nguyên nhân gây chấn thương (các loại tai nạn)
- 3.1.2. Thời gian từ khi bị tai nạn đến khi vào viện
- 3.2. Tình trạng BN khi đến viện
- 3.2.1. Các triệu chứng toàn thân:
- 3.2.2. Các tổn thương phối hợp
- 3.2.3. Triệu chứng khi khám bệnh:
- 3.3 Các thăm khám cận lâm sàng
- 3.3.1 Xét nghiệm máu
- 3.3.2. X quang bụng không chuẩn bị.
- Bàn luận (38 trang)
- Kết luận (2 trang)