Đăng nhập để tải tài liệu không giới hạn
Tham gia 8.000+ người dùng Thư Viện Luận Án
Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi cắt giảm thể tích phổi điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
Y học (dựa trên nội dung nghiên cứu về bệnh lý và phẫu thuật)
Luận án này tập trung nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi cắt giảm thể tích phổi (LVRS) trong điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) có khí phế thũng (KPT) nặng. BPTNMT là một vấn đề sức khỏe toàn cầu nghiêm trọng, với KPT là một trong những rối loạn sinh lý chính gây khó thở do hạn chế lưu thông khí, căng giãn phổi và giảm diện tích trao đổi phế nang. Mặc dù điều trị nội khoa là phương pháp chủ yếu, kỹ thuật giảm thể tích phổi đã chứng minh hiệu quả trong việc cải thiện sự không tương xứng giữa lồng ngực và thể tích phổi, tăng độ đàn hồi của phổi, giảm sức cản đường thở, từ đó giúp bệnh nhân cải thiện triệu chứng, giảm đợt bùng phát và nâng cao chất lượng cuộc sống. Phẫu thuật cắt giảm thể tích phổi đã được thực hiện thành công từ cuối thế kỷ XX với hiệu quả và tỷ lệ biến chứng thấp, bao gồm việc cắt bỏ 20-30% phần phổi khí phế thũng nặng.
Tại Việt Nam, phẫu thuật cắt giảm thể tích phổi cho bệnh nhân BPTNMT có KPT nặng đã được triển khai tại Bệnh viện Quân y 103 từ năm 2014, tuy nhiên, việc nghiên cứu và áp dụng phương pháp này một cách có hệ thống còn hạn chế. Xuất phát từ thực tiễn này, luận án được tiến hành với hai mục tiêu chính: (1) Khảo sát các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân BPTNMT KPT nặng được phẫu thuật nội soi cắt giảm thể tích phổi và rút ra nhận xét về chỉ định phẫu thuật; (2) Đánh giá kết quả điều trị bằng phương pháp này.
Nghiên cứu trên 31 bệnh nhân nam giới (tuổi trung bình 66,16, thời gian mắc bệnh 6,65 năm) cho thấy tiền sử hút thuốc lá nặng (trung bình 30,29 năm, 30,94 bao-năm), chỉ số BMI trung bình 20,46 kg/m², số đợt bùng phát cao (3,13 lần/năm), điểm mMRC và CAT cao (2,35 và 19,00 điểm). Khoảng cách đi bộ 6 phút trung bình là 293,90 mét. Hình ảnh cắt lớp vi tính lồng ngực cho thấy KPT nặng chủ yếu ở thùy dưới phổi phải (83,87%), với KPT toàn bộ tiểu thùy chiếm ưu thế. Chức năng hô hấp cho thấy giảm VC, FVC, FEV1 và tăng RV, TLC, Raw. Gần một nửa số bệnh nhân có giảm PaO2 và một phần tư có tăng PaCO2, với 19,35% bị suy hô hấp.
Về kết quả điều trị, phần lớn bệnh nhân (74,19%) được phẫu thuật nội soi hỗ trợ. Thời gian phẫu thuật trung bình 92,74 phút, khối lượng phổi cắt giảm trung bình 31,09 gam, thời gian dẫn lưu màng phổi 4,87 ngày. Không có trường hợp tử vong nào được ghi nhận trong 6 tháng theo dõi. Sau phẫu thuật, các chỉ số lâm sàng (CAT, mMRC, khoảng cách đi bộ 6 phút) và cận lâm sàng (điểm KPT trên CLVT, chức năng hô hấp VC, FVC, FEV1 tăng; RV, TLC, Raw giảm) đều cải thiện đáng kể tại các thời điểm 1 tháng, 3 tháng và 6 tháng.
Tải không giới hạn tất cả tài liệu, không cần chờ. Chỉ từ 199.000đ/tháng.
Xem gói hội viên