NGHIÊN CỨU TỶ LỆ NHIỄM HELICOBACTERPYLORI Ở BỆNH NHÂN MÀY ĐAY MẠN VÀ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ BẰNG PHÁC ĐỒ BA THUỐC DIỆT VI KHUẨN
Da liễu
Nghiên cứu này tập trung vào bệnh mày đay mạn, một tình trạng da phổ biến với căn nguyên phức tạp, trong đó nhiễm Helicobacter pylori (H. pylori) được nhận định có mối liên quan. Với tỷ lệ nhiễm H. pylori cao ở Việt Nam, đề tài đặt ra hai mục tiêu chính: khảo sát tỷ lệ nhiễm H. pylori ở bệnh nhân mày đay mạn và mối liên quan với các đặc điểm lâm sàng, đồng thời đánh giá hiệu quả điều trị mày đay mạn bằng kháng Histamin H1 kết hợp phác đồ ba thuốc diệt vi khuẩn.
Nghiên cứu được thực hiện trên 245 bệnh nhân mày đay mạn tại Bệnh viện Đại học Y Hải Phòng từ tháng 8/2016 đến tháng 02/2018. Tình trạng nhiễm H. pylori được xác định bằng xét nghiệm kháng nguyên trong phân (SAT). Bệnh nhân được phân thành hai nhóm: có và không nhiễm H. pylori. Nhóm nhiễm H. pylori đủ tiêu chuẩn được điều trị bằng kháng Histamin H1 kết hợp phác đồ ba thuốc diệt H. pylori trong 10 ngày. Hiệu quả điều trị được đánh giá thông qua các chỉ số như mức độ ngứa, sẩn phù, Điểm hoạt động mày đay (UAS), ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống (CLCS) và mức độ kiểm soát bệnh (UCT).
Kết quả cho thấy tỷ lệ nhiễm H. pylori ở bệnh nhân mày đay mạn là 64,9%. Nhóm bệnh nhân nhiễm H. pylori có các biểu hiện lâm sàng nặng hơn đáng kể, bao gồm thời gian tồn tại sẩn phù và ngứa kéo dài hơn 6 giờ (69,2%), mức độ ngứa nặng (81,8%) và sẩn phù nặng (55,3%) cao hơn so với nhóm không nhiễm H. pylori. Về hiệu quả điều trị, trước can thiệp, nhóm bệnh nhân nhiễm H. pylori đáp ứng điều trị diệt vi khuẩn có điểm UAS trung bình là 5,5±0,6 và điểm ảnh hưởng CLCS là 67,8±9,5, cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm không nhiễm H. pylori. Sau 4 tuần điều trị, nhóm này cho thấy sự giảm rõ rệt và có ý nghĩa thống kê về điểm ngứa, sẩn phù, UAS (giảm còn 1,9±0,7) và CLCS (giảm còn 33,2±5,9), đạt mức thấp nhất so với trước điều trị và thấp hơn hai nhóm còn lại. Tỷ lệ kiểm soát tốt bệnh ở nhóm nhiễm H. pylori đáp ứng điều trị diệt vi khuẩn đạt cao nhất sau 2 tuần dừng điều trị (96,1%), và sau 3 tháng vẫn duy trì ở mức 36,8%, cao hơn có ý nghĩa so với các nhóm khác. Tác dụng phụ được ghi nhận ở mức rất thấp và không có sự khác biệt đáng kể giữa các nhóm.
Nghiên cứu kết luận rằng nhiễm H. pylori là một yếu tố nguy cơ làm nặng thêm tình trạng mày đay mạn. Do đó, cần cân nhắc xét nghiệm chẩn đoán và điều trị diệt H. pylori kết hợp với thuốc kháng Histamin H1 trong quản lý bệnh nhân mày đay mạn có nhiễm vi khuẩn này.