NGHIÊN CỨU TÌNH TRẠNG KHÁNG ASPIRIN Ở BỆNH NHÂN CÓ YẾU TỐ NGUY CƠ TIM MẠCH CAO
Nội tim mạch
Nghiên cứu "Nghiên cứu tình trạng kháng Aspirin ở bệnh nhân có yếu tố nguy cơ tim mạch cao" tập trung vào một vấn đề quan trọng trong điều trị dự phòng tim mạch. Aspirin liều thấp được công nhận rộng rãi về hiệu quả trong việc giảm các biến cố tim mạch ở nhóm bệnh nhân nguy cơ cao, bao gồm giảm 12% biến cố mạch máu nghiêm trọng trong dự phòng tiên phát và 16,6-17,7% trong dự phòng thứ phát. Tuy nhiên, quan sát lâm sàng cho thấy hơn 20% bệnh nhân nguy cơ cao vẫn gặp biến cố tắc mạch nghiêm trọng do aspirin kém hiệu quả, một tình trạng được gọi là "kháng aspirin". Tỷ lệ kháng aspirin được ghi nhận trên thế giới dao động rộng (5,2% đến 83,3%) tùy thuộc vào đối tượng nghiên cứu và phương pháp đánh giá, với các đặc điểm nổi bật như giới nữ, tuổi cao và hemoglobin thấp. Tại Việt Nam, các nghiên cứu cũng chỉ ra tỷ lệ kháng aspirin đáng kể trên bệnh nhân bệnh mạch vành.
Luận án này được thực hiện nhằm hai mục tiêu chính: (1) Đánh giá tỷ lệ kháng aspirin trên bệnh nhân có yếu tố nguy cơ tim mạch cao đang điều trị aspirin; và (2) Đánh giá mối liên quan giữa kháng aspirin với một số yếu tố lâm sàng và cận lâm sàng.
Nghiên cứu được thiết kế tiến cứu, mô tả cắt ngang, thực hiện trên 380 bệnh nhân có nguy cơ tim mạch cao (bao gồm bệnh mạch vành, tương đương bệnh mạch vành, đái tháo đường, hoặc nguy cơ 10 năm mắc bệnh mạch vành >20% theo Framingham) đang điều trị aspirin 100mg/ngày tại Viện tim mạch, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 từ tháng 08/2010 đến 04/2012. Tình trạng kháng aspirin được xác định bằng phương pháp quang học đo ngưng tập tiểu cầu (LTA) với tiêu chuẩn: ngưng tập tiểu cầu ≥20% với Acid Arachidonic 0,5 mg/ml và ngưng tập tiểu cầu ≥70% với Adenosin DiPhosphat 10 µM/l.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ kháng aspirin chung là 40,3%. Tỷ lệ này cao nhất ở bệnh nhân đái tháo đường (53,3%), nhóm có nguy cơ 10 năm bệnh mạch vành >20% (50,5%), bệnh động mạch ngoại biên (50,0%) và đột quỵ nhồi máu não (45,2%). Các yếu tố liên quan đáng kể đến kháng aspirin bao gồm tuổi ≥70 (OR=1,600), đái tháo đường, và nguy cơ 10 năm bệnh mạch vành >20%. Đặc biệt, nguy cơ kháng aspirin tăng cao khi vòng bụng tăng (OR=14,960) và chỉ số WHR tăng (OR=25,648). Độ ngưng tập tiểu cầu cũng có tương quan tuyến tính thuận với vòng bụng, WHR, thời gian điều trị aspirin và mức độ nguy cơ 10 năm bệnh mạch vành. Không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa kháng aspirin với việc sử dụng các thuốc điều trị khác như clopidogrel, statin hoặc ức chế bơm proton. Những phát hiện này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nhận diện và quản lý tình trạng kháng aspirin ở bệnh nhân nguy cơ tim mạch cao.