NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN MỌT HẠI NGÔ SAU THU HOẠCH VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ SINH THÁI ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA LOÀI MỌT Sitophilus zeamais Motschulsky TRONG KHO BẢO QUẢN Ở SƠN LA
Sinh thái học
Luận án này tập trung giải quyết vấn đề thất thoát ngô hạt do côn trùng gây hại trong kho bảo quản, đặc biệt là tại tỉnh Sơn La, nơi ngô đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế và xóa đói giảm nghèo. Nông sản sau thu hoạch thường bị các loài côn trùng, đặc biệt là nhóm mọt, gây tổn thất đáng kể. Các biện pháp phòng chống hiện tại như phơi sấy hay xông hơi hóa học còn nhiều hạn chế về an toàn thực phẩm và hiệu quả, trong khi biện pháp sinh học ít được sử dụng. Tỉnh Sơn La cũng thiếu các công trình nghiên cứu toàn diện về nhóm côn trùng hại ngô hạt sau thu hoạch và các biện pháp phòng chống.
Mục tiêu chính của luận án là xác định thành phần loài mọt hại ngô hạt trong kho bảo quản tại Sơn La, nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái đến đặc điểm phát triển của loài mọt ngô *Sitophilus zeamais Motschulsky*, từ đó làm cơ sở khoa học để đề xuất các biện pháp phòng chống mọt hại ngô hạt sau thu hoạch thích hợp.
Kết quả nghiên cứu đã xác định được tổng cộng 24 loài mọt thuộc 20 giống của 13 họ gây hại ngô hạt ở Sơn La, trong đó *Sitophilus zeamais* (chiếm 49,09%) và *Cryptolestes ferrugineus* (chiếm 13,92%) là hai loài chiếm ưu thế về số lượng. Luận án cũng đã xây dựng khóa định loại bằng hình ảnh dựa trên đặc điểm hình thái của mọt trưởng thành cho các loài này. Về đặc điểm sinh học của *S. zeamais*, mọt trưởng thành có thời gian sống rất dài (mọt cái trung bình 125,89 ngày, mọt đực 119,44 ngày) và khả năng đẻ trứng kéo dài, không liên tục (trung bình 36,22 ngày thực tế đẻ trứng). Nhiệt độ và độ ẩm môi trường có ảnh hưởng rõ rệt đến thời gian phát triển của các pha và vòng đời của mọt, với độ ẩm càng cao thì vòng đời mọt ngô càng ngắn.
Đặc biệt, nghiên cứu chỉ ra rằng điều kiện bảo quản nghèo ôxy có hiệu quả đáng kể trong việc kiểm soát mọt. Mọt trưởng thành *S. zeamais* chết nhanh chóng dưới điều kiện 0% ôxy (chết hoàn toàn sau 90 giờ tiếp xúc), và nồng độ ôxy thấp (5%, 10%, 15%) làm chậm và giảm đáng kể sự xuất hiện và hoạt động của mọt, từ đó giảm hao hụt khối lượng ngô. Luận án cũng lần đầu tiên ghi nhận 6 loài ong ký sinh của mọt hại ngô ở Sơn La, với *Anisopteromalus calandrae* là loài chiếm ưu thế, mặc dù hiệu quả kiểm soát quần thể *S. zeamais* của chúng chưa được phát huy đầy đủ. Những đóng góp mới của luận án bao gồm việc xác định thành phần loài, xây dựng khóa định loại, bổ sung dữ liệu cơ bản về sinh học, sinh thái học của *S. zeamais*, và cung cấp dữ liệu về ảnh hưởng của điều kiện nghèo ôxy trong bảo quản ngô hạt. Các kết quả này là cơ sở khoa học quan trọng để đề xuất các giải pháp bảo quản ngô hạt hiệu quả, an toàn và bền vững tại Sơn La, góp phần giảm thiểu thất thoát và bảo vệ môi trường kho nông sản.
Không có mục lục chi tiết được cung cấp trong văn bản gốc.