Nghiên cứu sự khác biệt trình tự nucleotide của các vùng gene chỉ thị ở các mẫu sen trồng tại Huế và khảo sát hoạt tính sinh học của một số hợp chất chiết tách từ hạt sen
Thông tin về ngành học không được cung cấp trực tiếp trong văn bản.
Luận án này tập trung vào việc nghiên cứu sự khác biệt di truyền và hoạt tính sinh học của các mẫu sen (Nelumbo nucifera) trồng tại Thừa Thiên Huế. Xuất phát từ thực trạng nguồn tài nguyên di truyền thực vật đóng vai trò quan trọng trong nông nghiệp và sự cần thiết của việc định danh, đánh giá mối quan hệ di truyền, đặc biệt trong bối cảnh các giống sen bản địa tại Huế đang đối mặt với nguy cơ lẫn giống và thoái hóa.
Mục tiêu chung của đề tài là nghiên cứu sự khác biệt di truyền giữa các mẫu sen tại Huế bằng các vùng gene chỉ thị và khảo sát hoạt tính sinh học của các hợp chất chiết tách từ hạt sen địa phương. Các mục tiêu cụ thể bao gồm cung cấp dữ liệu khoa học về trình tự nucleotide của các vùng gene chỉ thị từ các mẫu sen ở Huế, ký gửi lên GenBank, đánh giá ứng dụng các chỉ thị gene nhân và lục lạp, thiết lập mối quan hệ phát sinh và tuyển chọn giống sen đặc trưng để phân lập, thử nghiệm các hợp chất có hoạt tính sinh học.
Nghiên cứu đã đạt được nhiều đóng góp quan trọng. Thứ nhất, xây dựng bộ dữ liệu về sự khác biệt trình tự nucleotide của 1 vùng gene chỉ thị từ hệ gene nhân và 9 vùng gene chỉ thị từ hệ gene lục lạp của 33 mẫu sen, với 330 trình tự đã được ký gửi và cấp mã số trên GenBank. Thứ hai, bước đầu phát hiện quy luật khác biệt trình tự nucleotide, xây dựng cây quan hệ phát sinh và tuyển chọn giống Sen Trắng Trẹt Lõm (ST02) có đặc điểm di truyền đặc trưng để nghiên cứu hợp chất sinh học. Thứ ba, phân lập thành công ba hợp chất alkaloid tinh khiết từ hạt Sen Trắng Trẹt Lõm là nuciferine, armepavine và anonaine. Cuối cùng, ghi nhận ba hợp chất này có hoạt tính chống oxy hóa mạnh nhưng không gây độc lên ba dòng tế bào ung thư MKN7, SK-Mel-2 và KB ở các nồng độ thử nghiệm.
Các kết luận chính rút ra bao gồm việc xác định kích thước các vùng gene chỉ thị (350-1667 bp) với độ tương đồng cao với N. nucifera, nhận diện 7 vùng gene chỉ thị có sai khác nucleotide đáng kể và các vị trí đa hình đặc trưng. Đặc biệt, mẫu Sen Trắng Trẹt Lõm (ST02) được xác định là giống bản địa có mối quan hệ di truyền khác biệt, được chọn làm nguồn nguyên liệu chính. Cao chiết tổng ethanol 70% từ hạt sen ST02 thể hiện hoạt tính bắt gốc tự do DPPH cao (IC50 = 6,931 mg/mL) và hoạt tính gây độc trung bình trên các dòng tế bào ung thư, hiệu quả nhất với LNCaP (IC50 = 37,330 µg/mL). Ba hợp chất alkaloid tinh khiết cũng cho thấy hoạt tính chống oxy hóa cao (IC50 lần lượt là 30,031 µg/mL, 43,093 µg/mL và 68,217 µg/mL) nhưng không gây độc tế bào ung thư trong điều kiện thử nghiệm.