NGHIÊN CỨU RỐI LOẠN NHỊP TIM VÀ RỐI LOẠN DẪN TRUYỀN TRONG THẤT Ở BỆNH NHÂN SUY TIM MẠN TÍNH CÓ GIẢM PHÂN SỐ TỐNG MÁU THẤT TRÁI
NỘI TIM MẠCH
Luận án tập trung nghiên cứu rối loạn nhịp tim (RLN) và rối loạn dẫn truyền trong thất (RLDT) ở bệnh nhân suy tim mạn tính có giảm phân số tống máu thất trái (LVEF). Suy tim là một hội chứng lâm sàng phức tạp, phổ biến trên lâm sàng, gây tử vong hàng đầu và làm giảm chất lượng cuộc sống. Rối loạn nhịp tim rất thường gặp ở bệnh nhân suy tim, làm tình trạng bệnh nặng hơn, đặc biệt ở nhóm bệnh nhân có giảm phân số tống máu thất trái. Mức độ suy tim càng nặng, các buồng tim càng giãn, LVEF càng giảm thì tỷ lệ rối loạn nhịp càng tăng và phức tạp.
Suy tim được định nghĩa là một hội chứng lâm sàng phức tạp xảy ra do rối loạn cấu trúc hay chức năng của tim làm giảm khả năng nhận máu và/hoặc tống máu của tâm thất. Các nguyên nhân gây suy tim giảm LVEF bao gồm bệnh động mạch vành, tăng huyết áp, bệnh van tim, bệnh cơ tim giãn, rối loạn nhịp (nhanh hoặc chậm thường xuyên), viêm cơ tim, bệnh tim bẩm sinh, bệnh chuyển hóa (đái tháo đường, thiếu vitamin B1) và do thuốc/hóa chất. Suy tim mạn tính là tình trạng tiến triển từ từ, kéo dài, xen kẽ các giai đoạn ổn định và đợt nặng lên. Suy tim giảm LVEF được xác định khi có triệu chứng suy tim và LVEF ≤ 40% (theo Hội Tim mạch Hoa Kỳ) hoặc < 50% (theo Hội Tim mạch Châu Âu).
Cơ chế rối loạn nhịp ở bệnh nhân suy tim bao gồm bất thường về cấu trúc và huyết động, rối loạn chuyển hóa, thay đổi điện sinh lý cơ tim và do sử dụng một số thuốc điều trị suy tim. Biến đổi cấu trúc trong suy tim dẫn đến thay đổi điện sinh lý tim, từ đó khởi động các cơ chế rối loạn nhịp. Rối loạn dẫn truyền trong thất biểu hiện qua thay đổi hình dạng và độ rộng QRS; biến đổi QRS, đặc biệt là blốc nhánh trái (LBBB), có liên quan đến mức độ, tiên lượng và lựa chọn phương pháp điều trị suy tim. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng tỷ lệ QRS rộng ở bệnh nhân suy tim LVEF < 45% là 20,8%, và tỷ lệ này tăng khi LVEF giảm, liên quan đến tử vong do tim mạch. Tuy nhiên, các nghiên cứu trong nước chưa đầy đủ về rối loạn nhịp và rối loạn dẫn truyền ở bệnh nhân suy tim giảm LVEF so với suy tim LVEF bảo tồn.
Nghiên cứu được tiến hành bằng cách thu thập số liệu thống nhất theo mẫu bệnh án, bao gồm hỏi khám lâm sàng và các xét nghiệm cận lâm sàng như công thức máu, điện giải đồ, ghi điện tim 12 đạo trình và theo dõi Holter điện tim 24 giờ. Chẩn đoán rối loạn dẫn truyền trong thất dựa trên tiêu chuẩn của Hội Tim mạch Mỹ 2009.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, nhóm bệnh nhân suy tim giảm LVEF (Nhóm 1, n=157) có tuổi trung bình thấp hơn (65,5 ± 12,8 so với 72,9 ± 10,2 năm) và LVEF thấp hơn đáng kể (32,2 ± 8,1 so với 54,5 ± 5,3%) so với nhóm suy tim LVEF bảo tồn (Nhóm 2, n=48). Nhóm 1 chủ yếu ở mức độ suy tim độ 3, trong khi nhóm 2 chủ yếu ở độ 2. Tỷ lệ blốc nhánh trái (17,2% so với 4,2%), tỷ lệ QRS ≥ 120 ms (26,1% so với 10,4%) và độ rộng trung bình của QRS (101,2 ± 26,1 ms so với 89,7 ± 25,4 ms) ở nhóm giảm LVEF cao hơn có ý nghĩa thống kê. Tỷ lệ LBBB và QRS ≥ 120% tăng dần theo mức giảm LVEF, đặc biệt rõ rệt ở LVEF < 40%. Độ rộng QRS và tỷ lệ blốc nhánh trái, QRS ≥ 120 ms cũng tăng theo thời gian mắc suy tim. Tần số tim trung bình trên Holter ở nhóm giảm LVEF cao hơn có ý nghĩa thống kê. Tuy nhiên, tỉ lệ RLN trên thất, NTT trên thất, số lượng NTT trên thất, rung nhĩ và cơn nhanh trên thất không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm.