info@luanan.net.vn
VIP Luận án PDF

Luận án Nghiên cứu phẫu thuật đặt van dẫn lưu Ahmed trong glôcôm trẻ em tái phát.

Năm2015
Lĩnh vựcY tế - Sức khoẻ
Ngôn ngữTiếng Việt, Tiếng Anh
Xem trước tài liệu
Đang tải...

Đang tải tài liệu...

Mô tả tài liệu

Tên luận án:

NGHIÊN CỨU PHẪU THUẬT ĐẶT VAN DẪN LƯU AHMED TRONG GLÔCÔM TRẺ EM TÁI PHÁT

Ngành:

NHÃN KHOA

Tóm tắt nội dung tài liệu:

Luận án tiến sĩ y học này trình bày kết quả nghiên cứu can thiệp lâm sàng về phẫu thuật đặt van dẫn lưu Ahmed trong điều trị glôcôm trẻ em tái phát, được thực hiện tại Bệnh viện Mắt TP.HCM từ tháng 3/2009 đến tháng 3/2012. Nghiên cứu bao gồm 50 mắt của 50 bệnh nhân bị glôcôm tái phát sau phẫu thuật tại góc hoặc phẫu thuật tạo lỗ dò thất bại, được chia thành hai nhóm: đặt van Ahmed và cắt bè củng mạc (CBCM) với Mitomycin C (MMC).

Về đặc điểm dịch tễ và lâm sàng, tỉ lệ glôcôm trẻ em tương đương ở nam và nữ, với tuổi phát hiện bệnh trung bình là 90,48 tháng. Glôcôm bẩm sinh chiếm đa số (68%), và tình trạng bệnh lý thường nặng nề với thị lực thấp, đa số nằm trong nhóm gần mù. Nhãn áp trung bình trước phẫu thuật là 31,42mmHg, và bệnh nhân đã trải qua trung bình 1,46 lần phẫu thuật trước đó, chủ yếu là CBCM (85,14%). Hai nhóm nghiên cứu được phân bổ ngẫu nhiên, đảm bảo sự tương đồng về các đặc điểm ban đầu.

Đánh giá hiệu quả điều trị cho thấy phẫu thuật đặt van Ahmed giảm nhãn áp 44% so với trước phẫu thuật, trong khi CBCM+MMC giảm 49%. Tuy nhiên, tỉ lệ thành công toàn thể của phẫu thuật đặt van Ahmed là 76% (40% thành công hoàn toàn, 36% thành công một phần), cao hơn đáng kể so với CBCM+MMC là 48% (40% thành công hoàn toàn, 8% thành công một phần). Tỉ lệ thành công tích lũy của đặt van Ahmed duy trì ở mức 76% sau 36 tháng, trong khi CBCM+MMC giảm xuống 51,33% sau cùng thời gian. Thời gian kiểm soát nhãn áp trung bình của đặt van là 30,24 tháng, dài hơn so với CBCM+MMC (23,20 tháng).

Về biến chứng, phẫu thuật đặt van Ahmed có tần suất biến chứng cao hơn (xẹp tiền phòng 8%, xuất huyết tiền phòng 12%, bao hóa bọng 12%, đục thể thủy tinh 16%, ống dẫn lưu chạm giác mạc 4%), nhưng các biến chứng này thường không gây mất thị lực nghiêm trọng và có thể can thiệp. Trong khi đó, CBCM+MMC có tần suất biến chứng ít hơn (xẹp tiền phòng 16%, bong hắc mạc 4%, bong võng mạc 4%), nhưng khả năng gây mất thị lực vĩnh viễn lại cao hơn (12%).

Phân tích các yếu tố liên quan chỉ ra rằng phẫu thuật đặt van Ahmed giảm nguy cơ thất bại 3,7 lần so với CBCM+MMC trong glôcôm trẻ em tái phát. Các yếu tố như giới tính, độ tuổi, loại bệnh, mức độ bệnh và số lần phẫu thuật trước đó chưa được chứng minh là yếu tố nguy cơ thất bại có ý nghĩa thống kê do cỡ mẫu nghiên cứu còn nhỏ.

Nghiên cứu khuyến nghị xem xét phẫu thuật đặt van dẫn lưu ngay trong các trường hợp glôcôm trẻ em tái phát sau phẫu thuật tại góc hoặc CBCM thất bại, đặc biệt ở trẻ nhỏ; tiến hành đặt van dẫn lưu nguyên phát cho glôcôm kèm dị tật mắt; và cân nhắc chỉ định đặt van Ahmed cho glôcôm tái phát sau phẫu thuật lấy đục thể thủy tinh bẩm sinh.

Tài liệu liên quan