info@luanan.net.vn
VIP Luận án DOC

Luận án Nghiên cứu một số đặc điểm của vết thương mạn tính và hiệu quả điều trị của ghép tế bào gốc từ mô mỡ tự thân.

Năm2018
Lĩnh vựcY tế - Sức khoẻ
Ngôn ngữTiếng Việt, Tiếng Anh

Mô tả tài liệu

Tên luận án:

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA VẾT THƯƠNG MẠN TÍNH VÀ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ CỦA GHÉP TẾ BÀO GỐC TỪ MÔ MỠ TỰ THÂN

Ngành:

NGOẠI BỎNG Mã số: 62.72.01.28

Tóm tắt nội dung tài liệu:

Luận án này nghiên cứu đặc điểm của vết thương mạn tính (VTMT) và đánh giá hiệu quả điều trị bằng phương pháp ghép tế bào gốc từ mô mỡ tự thân (TBGM). VTMT được xác định là một thách thức lớn trong y học, thường xuất hiện trên các bệnh nhân có bệnh lý nền phức tạp, kéo dài trên 6 tuần. Nghiên cứu được thực hiện trên 56 bệnh nhân với 71 vết thương mạn tính tại Khoa Liền Vết Thương, Viện Bỏng Quốc gia Lê Hữu Trác từ tháng 10/2014 đến tháng 6/2016. Độ tuổi trung bình của bệnh nhân là 52,96 ± 18,19, với 94,64% có bệnh kết hợp như chấn thương tủy sống, bệnh tim mạch, đái tháo đường và tai biến mạch máu não.

Tại thời điểm ban đầu (T0), các VTMT cho thấy đặc điểm lâm sàng phức tạp: phần lớn có mép xơ chai, tăng sản, da xung quanh khô hoặc ẩm ướt, nhiệt độ thấp hơn da lành và không có biểu mô hóa. Vùng nền vết thương thường có diện tích trung bình 25,71 cm², 90,14% là tổn thương độ III, với mô hạt phù nề, hoại tử và pH kiềm (95,7%). Cận lâm sàng ghi nhận 77,36% vết thương dương tính với vi khuẩn bề mặt và tổn thương mô liên kết chân bì với ít nguyên bào sợi và mạch máu.

Sau khi ghép TBGM, các vết thương mạn tính cho thấy sự cải thiện đáng kể theo thời gian. Tỷ lệ biểu mô hóa tăng rõ rệt từ 15,79% (T1) lên 92,85% (T4). Các mép xơ chai và tăng sản giảm đáng kể. Mô hạt tại nền vết thương phát triển nhanh, từ 0% (T1) lên 89,29% (T4), dịch tiết giảm dần và pH chuyển từ kiềm sang trung tính hoặc axit. Kích thước vết thương giảm rõ rệt và có ý nghĩa thống kê (P < 0,001). Về mặt vi thể, quan sát thấy tăng sinh biểu mô, giảm phù viêm, tăng tạo và sắp xếp collagen có trật tự, tăng sinh mạch máu và nguyên bào sợi, đồng thời giảm tế bào viêm.

Kết quả điều trị cho thấy 60,53% vết thương liền hoàn toàn chỉ bằng ghép TBGM. Đối với các trường hợp cần phẫu thuật bổ sung, 100% trong số 13 vết thương được ghép da hoặc chuyển vạt che phủ đã liền ngay sau phẫu thuật đầu tiên. Thời gian điều trị trung bình là 58,47 ± 19,48 ngày. Nghiên cứu cũng ghi nhận một số tác dụng không mong muốn như mủ dưới tấm TBGM (7,89%) và mô hạt phát triển phì đại (5,26%).

Luận án kết luận rằng ghép tế bào gốc từ mô mỡ tự thân là một phương pháp hiệu quả trong điều trị vết thương mạn tính, giúp cải thiện đáng kể quá trình liền vết thương, thúc đẩy biểu mô hóa, hình thành mô hạt và giảm kích thước vết thương, góp phần vào thành công của điều trị tổng thể.

Mục lục chi tiết:

  • ĐẶT VẤN ĐỀ

  • 3.1.2.3. Đặc điểm lâm sàng vùng nền vết thương mạn tính

  • 3.1.3. Một số đặc điểm cận lâm sàng ở thời điểm T0

    • 3.1.3.1 Đặc điểm nhiễm khuẩn bề mặt vết thương mạn tính
  • 3.2.2. Biến đổi nền vết thương mạn tính sau ghép tế bào gốc từ mô mỡ

  • 3.2.6. Kết quả và thời gian điều trị vết thương mạn tính

  • 3.2.7. Tác dụng không mong muốn khi ghép tế bào gốc từ mô mỡ tự thân

  • CHƯƠNG 4. BÀN LUẬN

    • 4.1. Đặc điểm tại chỗ vết thương mạn tính
      • a) Đặc điểm lâm sàng tại chỗ vết thương mạn tính

Tài liệu liên quan