info@luanan.net.vn
VIP Luận án DOC

Luận án Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, lâm sàng viêm phổi không điển hình do vi khuẩn ở trẻ em

Năm2014
Lĩnh vựcY tế - Sức khoẻ
Ngôn ngữTiếng Việt, Tiếng Anh

Mô tả tài liệu

Tên luận án:

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC, LÂM SÀNG VIÊM PHỔI KHÔNG ĐIỂN HÌNH DO VI KHUẨN Ở TRẺ EM

Ngành:

Dịch tễ học

Tóm tắt nội dung tài liệu:

Nghiên cứu này của Phạm Thu Hiền tập trung vào đặc điểm dịch tễ học và lâm sàng của viêm phổi không điển hình (VPKĐH) do vi khuẩn ở trẻ em, một bệnh lý chưa được nghiên cứu sâu tại Việt Nam dù có tỷ lệ mắc đáng kể ở các nước phát triển.

Đóng góp khoa học chính là lần đầu xác định tỷ lệ VPKĐH do Mycoplasma pneumoniae, Chlamydia pneumoniae, Legionella pneumophila và tỷ lệ đồng nhiễm ở trẻ em điều trị tại bệnh viện, cùng với các yếu tố liên quan đến VPKĐH đồng nhiễm.

Về dịch tễ, C. pneumoniae phân bố toàn cầu, gây bệnh ở mọi lứa tuổi, cao nhất 5-9 tuổi, tăng cuối hè đầu thu. Bệnh lây qua đường hô hấp, ủ bệnh trung bình 3 tuần. Các biểu hiện ngoài phổi đa dạng, từ viêm tai, phát ban đến các biến chứng hiếm gặp như hội chứng Guillain-Barre.

Thiết kế nghiên cứu mô tả loạt bệnh, tiến cứu, thực hiện tại Bệnh viện Nhi Trung ương trên trẻ 12 tháng đến 15 tuổi được chẩn đoán viêm phổi theo WHO. Dữ liệu thu thập qua phỏng vấn, khám lâm sàng và cận lâm sàng bao gồm công thức máu, CRP, IgM và Multiplex-PCR để phát hiện tác nhân vi khuẩn.

Kết quả cho thấy VPKĐH đơn thuần chiếm 67% tổng số trường hợp. Tỷ lệ đồng nhiễm VPKĐH là 33%, với đồng nhiễm vi khuẩn khác và vi rút chiếm 28,37%. M. pneumoniae là tác nhân chính (26,3%). Tần suất mắc VPKĐH ở trẻ trên 5 tuổi cao hơn đáng kể so với nhóm dưới 5 tuổi (p < 0,01). Mổ đẻ là yếu tố liên quan đến VPKĐH đồng nhiễm ngoài nhóm (OR = 2,12). Triệu chứng khò khè cũng thường gặp hơn ở nhóm đồng nhiễm.

Phân tích hồi quy logistic đa biến chỉ ra VPKĐH nặng liên quan đến đồng nhiễm vi khuẩn/vi rút (OR = 3,77, p < 0,001) và tổn thương viêm phổi màng phổi (OR = 53,2; p < 0,001). Ngược lại, tuổi càng lớn (trên 5 tuổi) thì khả năng mắc VPKĐH nặng càng giảm (OR = 0,28; p = 0,04).

Hạn chế của đề tài bao gồm việc nghiên cứu tại một trung tâm lớn với kỹ thuật hiện đại chưa phổ biến rộng rãi, và việc bệnh nhân thường đã được điều trị kháng sinh tuyến dưới, có thể ảnh hưởng đến kết quả về tỷ lệ đồng nhiễm.

Tài liệu liên quan