NGHIÊN CỨU KẾT QUẢ SÀNG LỌC PHÁT HIỆN UNG THƯ PHỔI Ở ĐỐI TƯỢNG TRÊN 60 TUỔI CÓ YẾU TỐ NGUY CƠ BẰNG CHỤP CT
Y học
Luận án này trình bày nghiên cứu về kết quả sàng lọc phát hiện ung thư phổi (UTP) ở nhóm đối tượng trên 60 tuổi có yếu tố nguy cơ, chủ yếu thông qua phương pháp chụp cắt lớp vi tính liều thấp (CLVT liều thấp). UTP được xác định là một trong những bệnh ung thư có tỷ lệ mắc và tử vong đứng hàng đầu, đặc biệt phổ biến ở người cao tuổi trên 60 và có mối liên quan chặt chẽ với hút thuốc lá.
Nghiên cứu đã so sánh sự khác biệt giữa X quang phổi và chụp CLVT liều thấp, chỉ ra rằng CLVT liều thấp vượt trội trong việc phát hiện các tổn thương nhỏ (dưới 10mm) và đặc tính bên trong của nốt mờ, đồng thời duy trì liều tia xạ thấp. Quy trình theo dõi nốt mờ được áp dụng dựa trên các khuyến cáo quốc tế.
Trên tổng số 389 đối tượng nghiên cứu, một phát hiện đáng chú ý là 61,9% không có triệu chứng lâm sàng rõ rệt. Trong số các bệnh nhân được chẩn đoán UTP, có tới 22,2% không có triệu chứng và được phát hiện nhờ chụp CLVT liều thấp. Kết quả sàng lọc bằng CLVT liều thấp đã phát hiện 39 trường hợp có nốt không canxi hóa và 29 trường hợp có nốt canxi hóa. Đa số các đối tượng có nốt không canxi hóa chỉ có một nốt mờ (chiếm 94,8%), và các nốt này chủ yếu nằm ở vị trí ngoại vi phổi (92,3%). Các thùy phổi thường gặp nốt mờ nhất là thùy trên phải (28,3%) và thùy dưới phải (25,6%).
Đối với 19 bệnh nhân được sinh thiết, ung thư phổi được phát hiện nhiều nhất ở thùy trên phải và thùy trên trái, mỗi vị trí chiếm 33,3%. Kích thước trung bình của tổn thương là 11,6 ± 9,66 mm, dao động từ 2 mm đến 40 mm. Nghiên cứu đã thiết lập mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa kích thước tổn thương và nguy cơ ác tính (p = 0,006, r = 0,579), khẳng định rằng kích thước càng lớn, nguy cơ ác tính càng cao. Về hình thái, nốt có bờ tua gai có tỷ lệ phát hiện ung thư cao (66,7%), và tổn thương nốt đặc hoàn toàn chiếm 77,8% các trường hợp ung thư được chẩn đoán.
Theo dõi nốt mờ sau 3 và 6 tháng cho thấy sự thay đổi kích thước ở một số trường hợp, với một số được xác nhận là UTP. Về phương thức chẩn đoán xác định, sinh thiết xuyên thành ngực là thủ thuật được thực hiện phổ biến nhất (95%) khi nội soi phế quản ít đóng góp cho chẩn đoán. Tổng cộng, 7 trong số 19 bệnh nhân được sinh thiết đã được chẩn đoán mắc ung thư (36,8%).