NGHIÊN CỨU HÌNH THÁI VÀ CHỨC NĂNG THẤT TRÁI BẰNG KỸ THUẬT SIÊU ÂM ĐÁNH DẤU MÔ CƠ TIM TRÊN VẬN ĐỘNG VIÊN
NỘI KHOA
Luận án "Nghiên cứu hình thái và chức năng thất trái bằng kỹ thuật siêu âm đánh dấu mô cơ tim trên vận động viên" được thực hiện nhằm mục tiêu chính là đánh giá hình thái và chức năng thất trái của vận động viên (VĐV) tại tỉnh Kiên Giang bằng kỹ thuật siêu âm đánh dấu mô cơ tim (STE) và so sánh với siêu âm tim quy ước. Ngoài ra, nghiên cứu còn xác định mối tương quan giữa các thông số từ hai phương pháp siêu âm này và theo dõi sự thay đổi của hình thái, chức năng thất trái sau 6 tháng giảm cường độ luyện tập ở nhóm VĐV có biểu hiện hội chứng tim vận động viên.
Nghiên cứu được tiến hành trên 235 đối tượng, gồm 141 VĐV và 94 người khỏe mạnh. Đây là nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam ứng dụng kỹ thuật STE để khảo sát chức năng thất trái trên VĐV, cung cấp thông tin về các giá trị biến dạng cơ tim theo trục dọc, chu vi, trục ngắn, xoắn và tháo xoắn thất trái trên VĐV khỏe mạnh.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, các VĐV có những biến đổi về hình thái tim (như phì đại đồng tâm, phì đại lệch tâm thất trái) nhưng chức năng tâm thu và tâm trương thất trái vẫn nằm trong giới hạn bình thường khi đánh giá bằng siêu âm tim quy ước. Các chỉ số siêu âm tim quy ước như đường kính nhĩ trái (LA), độ dày vách liên thất thì tâm trương (IVSd), đường kính thất trái cuối tâm trương (LVIDd), độ dày thành sau thất trái thì tâm trương (PWd), khối lượng thất trái (LVM) và chỉ số khối lượng thất trái (LVMI) có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm VĐV và nhóm chứng, cũng như giữa các nhóm VĐV dựa trên hình thức tập luyện.
Về siêu âm tim đánh dấu mô, giá trị biến dạng trục dọc thất trái trung bình toàn bộ (GLSavg) không có sự khác biệt đáng kể giữa VĐV và nhóm chứng, nhưng biến dạng cơ tim theo chu vi và trục ngắn thất trái lại có sự khác biệt. Tốc độ xoắn và tốc độ tháo xoắn thất trái cũng có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm. Khi theo dõi sau 6 tháng giảm cường độ tập luyện, nhiều thông số hình thái tim có sự thay đổi đáng kể, trong khi GLSavg, biến dạng chu vi (GCSavg) và biến dạng trục ngắn (GRSavg) không thay đổi. Tuy nhiên, các biến dạng xoay đáy, xoay mỏm tim, xoắn và tốc độ tháo xoắn thất trái lại cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa giữa hai thời điểm.
Nghiên cứu cũng chỉ ra mối tương quan nghịch giữa phân suất tống máu (EF), EF Simpson với GLSavg và GCSavg. Tuy nhiên, nghiên cứu còn hạn chế về cỡ mẫu và sự phân bố giới tính không đồng nhất, cũng như các giá trị STE chưa được chấp nhận rộng rãi trong thực hành lâm sàng. Do đó, luận án kiến nghị cần áp dụng khảo sát biến dạng thất trái theo trục dọc trong đánh giá chức năng tim VĐV, đặc biệt trong “khoảng xám”, và cần có thêm các nghiên cứu cỡ mẫu lớn hơn để khẳng định hiệu quả và cung cấp giá trị tham chiếu.
Luận án có cấu trúc như sau: