NGHIÊN CỨU VỀ GIẢI PHẪU VÙNG EO NHĨ VÀ ỨNG DỤNG TRONG ĐIỀU TRỊ VIÊM TAI GIỮA MẠN TÚI LÕM MÀNG CHÙNG
TAI MŨI HỌNG
Luận án tập trung nghiên cứu bệnh lý Viêm tai giữa mạn túi lõm màng chùng (VTG mạn túi lõm màng chùng), một tình trạng gây giảm sức nghe nghiêm trọng và ảnh hưởng đến sinh hoạt người bệnh. Nguyên nhân chính được cho là rối loạn vi thông khí thượng nhĩ do tắc eo nhĩ, và việc phẫu thuật dù được chọn lựa vẫn có tỉ lệ tái phát cao. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm ba mục tiêu chính: làm rõ giải phẫu eo nhĩ thông qua phẫu tích xương thái dương, đánh giá giá trị chẩn đoán tổn thương eo nhĩ bằng CT scan khi đối chiếu với phẫu thuật, và đánh giá kết quả phẫu thuật điều trị VTG mạn túi lõm màng chùng sau khi mở thông eo nhĩ.
Về phương pháp, nghiên cứu bao gồm hai nhóm chính: nhóm phẫu tích 44 tai từ 22 xác và nhóm phẫu thuật 51 tai của 50 người bệnh được chẩn đoán VTG mạn túi lõm màng chùng. Đây là nghiên cứu cắt ngang, mô tả hàng loạt ca có can thiệp lâm sàng, không có nhóm chứng. Các đóng góp mới của nghiên cứu bao gồm việc xác định hình dạng, vị trí, kích thước của eo nhĩ qua phẫu tích, xác định giá trị của CT scan trong chẩn đoán tắc eo nhĩ có kiểm chứng bằng nghiệm pháp thông nước trong phẫu thuật, và đánh giá kết quả phẫu thuật sau mở thông eo nhĩ.
Kết quả cho thấy eo nhĩ có dạng hình khối, nằm ở hoành nhĩ, thượng nhĩ sau-trong và ¼ sau-trên của trung nhĩ, với chiều dài trung bình 5,79 ± 0,66mm, chiều rộng 2,60 ± 0,29mm và chiều sâu trung bình lần lượt là 4,07 ± 0,33mm (trước) và 6,43 ± 0,67mm (sau). Các yếu tố như lồi ống bán khuyên ngoài, kích thước đầu búa, xương đe ảnh hưởng đến kích thước eo nhĩ. Đối với giá trị chẩn đoán của CT scan, 45/51 tai (88,24%) eo nhĩ không thông nước, và có tương quan thuận giữa hình ảnh mờ eo nhĩ trên CT scan và nghiệm pháp thông nước (p=0,047). Tổn thương xương con càng nhiều thì tỉ lệ không thông nước eo nhĩ càng cao (p < 0,001).
Đánh giá kết quả phẫu thuật trên 51 tai, với thời gian theo dõi trung bình 7,09 tháng, cho thấy 64,70% đạt kết quả tốt, 15,68% trung bình và 5,89% xấu. Kết quả tốt thường liên quan đến hình ảnh eo nhĩ không mờ hoặc mờ 1 phần trên CT scan, thông nước tốt hoặc thông 1 phần, và xương con còn nguyên hoặc khuyết 1 phần. Sức nghe sau mổ, nhĩ lượng đồ đa số là kiểu As (63,64%), và khoảng khí-cốt đạo trung bình giảm không nhiều so với trước mổ. Nghiên cứu ghi nhận 1 trường hợp tái phát túi lõm và không có tai biến trong hay sau mổ.