Nghiên cứu kết quả phẫu thuật phaco đặt kính nội nhãn toric điều trị đục thể thủy tinh có kèm theo loạn thị giác mạc
Nhãn khoa
Theo các nghiên cứu quốc tế, tỷ lệ bệnh nhân phẫu thuật thể thủy tinh (TTT) mắc loạn thị giác mạc (GM) từ 1,25 Diop trở lên chiếm 25% - 30%. Việc không điều chỉnh loạn thị kèm theo khi phẫu thuật đặt kính nội nhãn thông thường dẫn đến tồn dư loạn thị, gây nhìn mờ, nhòe, lóa mắt và nhức mỏi mắt sau phẫu thuật. Để cải thiện chất lượng thị giác và giảm phụ thuộc vào kính, việc điều trị loạn thị kết hợp là cần thiết. Các phương pháp sử dụng đường rạch GM có thể điều trị loạn thị nhẹ hoặc trung bình nhưng kém chính xác, hiệu quả không cao và có tác dụng phụ. Trong khi đó, kính nội nhãn toric được đánh giá cao về độ chính xác, khả năng điều trị loạn thị cao, kết quả tiên đoán tốt và ít biến chứng.
Tại Việt Nam, dù phẫu thuật phaco điều trị đục TTT rất phổ biến, nhưng các nghiên cứu về điều chỉnh loạn thị phối hợp, đặc biệt là bằng kính nội nhãn toric, còn hạn chế. Đề tài này được thực hiện nhằm đánh giá kết quả phẫu thuật phaco đặt kính nội nhãn toric trong điều trị đục TTT kèm loạn thị GM, đồng thời so sánh với phương pháp đặt kính nội nhãn thông thường. Luận án cũng phân tích quy trình chẩn đoán, tính toán công suất kính và kỹ thuật phẫu thuật nhằm nâng cao hiệu quả điều trị.
Đây là công trình đầu tiên tại Việt Nam nghiên cứu toàn diện về phương pháp điều chỉnh loạn thị bằng kính nội nhãn toric trong phẫu thuật phaco. Luận án đã chứng minh hiệu quả về thị lực, giảm độ loạn thị sẵn có, giảm nhu cầu đeo kính nhìn xa, từ đó tăng chất lượng thị giác cho bệnh nhân. Đồng thời, nghiên cứu cũng đánh giá tính an toàn của kính nội nhãn Acrysof toric và đưa ra kinh nghiệm về chẩn đoán loạn thị GM, tính toán công suất kính nội nhãn, kỹ thuật phẫu thuật và xử trí xoay lệch kính sau mổ. Kết quả nghiên cứu lâm sàng trên 80 mắt đặt kính toric cho thấy thị lực không chỉnh kính tốt đạt 70% (≥ 20/25) và thị lực chỉnh kính tốt đạt 88,75% (≥ 20/25) sau 1 năm, với khúc xạ trụ tồn dư giảm đáng kể và chỉ số thành công đạt 88,32%, khẳng định tính hiệu quả và an toàn của phương pháp.