NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM TỔN THƯƠNG VÀ KẾT QUẢ CAN THIỆP ĐẶT STENT CHỖ CHIA NHÁNH ĐỘNG MẠCH VÀNH THỦ PHẠM Ở BỆNH NHÂN HỘI CHỨNG MẠCH VÀNH CẤP
Nội khoa
Luận án tập trung nghiên cứu đặc điểm tổn thương và kết quả can thiệp đặt stent chỗ chia nhánh động mạch vành thủ phạm ở bệnh nhân hội chứng mạch vành cấp (ACS). ACS là một biến cố nặng của bệnh động mạch vành và là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu. Can thiệp đặt stent qua da là phương pháp điều trị hiệu quả, tuy nhiên, tổn thương chỗ chia nhánh động mạch vành (chiếm khoảng 15-20% các trường hợp cần can thiệp) là một trong những tổn thương phức tạp, tiềm ẩn rủi ro mất nhánh bên và gia tăng biến cố tim mạch chính. Mặc dù kỹ thuật đặt stent vượt qua nhánh bên (Provisional stenting) là chiến lược can thiệp tiêu chuẩn trong bệnh cảnh ACS, nhưng nó còn hạn chế trong việc tiếp cận nhánh bên sau khi đặt stent ở nhánh chính, đặc biệt với những tổn thương phức tạp. Để khắc phục nhược điểm này, các stent chuyên dụng như AXXESS đã được nghiên cứu và phát triển.
Nghiên cứu được tiến hành nhằm khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, tổn thương chỗ chia nhánh động mạch vành thủ phạm và đánh giá kết quả ngắn hạn của can thiệp bằng kỹ thuật Provisional stenting hoặc stent AXXESS dựa trên hình thái tổn thương ở bệnh nhân ACS tại Việt Nam. Đây là một nghiên cứu can thiệp, không ngẫu nhiên, được thực hiện trên 141 bệnh nhân ACS có chỉ định can thiệp từ tháng 05/2014 đến tháng 12/2017. Các bệnh nhân được chia thành hai nhóm: 90 bệnh nhân sử dụng kỹ thuật Provisional stenting và 51 bệnh nhân sử dụng stent chuyên dụng AXXESS. Kết quả nghiên cứu cho thấy tổn thương chỗ chia nhánh động mạch vành thủ phạm chủ yếu gặp ở động mạch liên thất trước (79,4%), với các phân loại Medina 1.1.1 (48,2%) và 1.1.0 (30,5%) là phổ biến nhất, và góc phân nhánh thường dưới 70 độ (79,4%). Nghiên cứu đóng góp mới khi chỉ ra rằng can thiệp chỗ chia nhánh động mạch vành thủ phạm ở bệnh nhân ACS bằng Provisional stenting hoặc stent AXXESS dựa trên hình thái tổn thương mang lại kết quả khả quan, với tỷ lệ thành công cao, biến chứng thấp và kết quả lâm sàng ổn định sau 6 tháng theo dõi.