NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CHẨN ĐOÁN HÌNH ẢNH VÀ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT THAY ĐĨA ĐỆM NHÂN TẠO ĐIỀU TRỊ THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM CỘT SỐNG CỔ MỘT TẦNG
Ngoại khoa
Luận án "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh và kết quả phẫu thuật thay đĩa đệm nhân tạo điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống cổ một tầng" của Nguyễn Trung Kiên, chuyên ngành Ngoại khoa, Học viện Quân y, năm 2020, tập trung vào bệnh lý thoát vị đĩa đệm cột sống cổ (TVĐĐCSC) đơn tầng. Bệnh lý này phổ biến thứ hai sau thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng, với chẩn đoán xác định dễ dàng nhờ cộng hưởng từ (CHT). Trong khi phương pháp điều trị bảo tồn và phẫu thuật hàn xương truyền thống còn hạn chế do làm cứng đoạn vận động, kỹ thuật thay đĩa đệm nhân tạo (ĐĐNT) có khớp vùng cổ đã chứng minh hiệu quả trong việc giải quyết nguyên nhân bệnh lý, duy trì chiều cao gian đốt, đường cong sinh lý và bảo tồn chuyển động cột sống. Tuy nhiên, tại Việt Nam, các nghiên cứu về ĐĐNT còn hạn chế, đặc biệt chưa có nghiên cứu chuyên sâu về TVĐĐ đơn tầng.
Nghiên cứu được thực hiện trên 46 bệnh nhân TVĐĐCSC một tầng được phẫu thuật thay ĐĐNT loại DiscocervTM tại Bệnh viện Quân y 175 từ năm 2011 đến 2016. Mục tiêu chính là nhận xét đặc điểm lâm sàng, hình ảnh X-quang, CHT và đánh giá kết quả vi phẫu thuật giải ép có thay ĐĐNT. Luận án đã xác định được tỷ lệ quá phát xương tại tầng liền kề và vị trí thay đĩa đệm sau 1 năm theo dõi, đồng thời phân tích biên độ vận động cột sống cổ trước và sau phẫu thuật.
Kết quả cho thấy độ tuổi trung bình bệnh nhân là 50,70 ± 10,97, với tỷ lệ hội chứng chèn ép tủy cao (54,35%). Các triệu chứng nổi bật bao gồm đau cổ (100%), tê bì ngọn chi (67,39%), và rối loạn vận động như giảm khéo léo bàn tay (73,91%). Về hình ảnh CHT, 100% trường hợp có thoát vị ra sau, giảm tín hiệu T2W, và chủ yếu thoái hóa độ 3, 4 theo Pfirrmann. Vị trí thoát vị thường gặp nhất là C56 (50%).
Về kết quả điều trị, thời gian phẫu thuật trung bình 65,33 phút, không gặp tai biến trong mổ. Mức độ đau cổ (VAS) và chỉ số giảm chức năng cột sống cổ (NDI) cải thiện đáng kể ngay sau mổ và duy trì tốt sau 6, 12 tháng (p < 0,01 và p < 0,001). Chỉ số JOA cho thấy chức phận tủy hồi phục tốt, với 73,08% trường hợp hồi phục rất tốt sau 12 tháng. Kết quả X-quang sau 12 tháng ghi nhận tỷ lệ quá phát xương tại vị trí thay đĩa đệm thấp (5,41% độ I) và biên độ vận động đoạn can thiệp có cải thiện đáng kể (p < 0,001). Những phát hiện này khẳng định hiệu quả và tính ưu việt của phẫu thuật thay đĩa đệm nhân tạo trong điều trị TVĐĐCSC một tầng.