Tên luận án:
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG, SIÊU ÂM ĐÁNH DẤU MÔ CƠ TIM Ở BỆNH NHÂN ĐƯỢC PHẪU THUẬT THAY VAN ĐỘNG MẠCH CHỦ
Ngành:
Nội khoa/Nội Tim mạch
Tóm tắt nội dung tài liệu:
Luận án tập trung nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và giá trị của siêu âm đánh dấu mô cơ tim 2D (GLS) ở bệnh nhân được phẫu thuật thay van động mạch chủ (ĐMC). Bệnh lý van ĐMC phổ biến, với phẫu thuật thay van là phương pháp điều trị chủ đạo. Tuy nhiên, việc sử dụng phân suất tống máu thất trái (EF) làm tham số chỉ định phẫu thuật có thể dẫn đến giải thích sai về sinh lý bệnh, do EF có thể bình thường nhưng chức năng co bóp cơ tim đã suy giảm, đặc biệt khi có tái cấu trúc thất trái. Sức căng dọc thất trái toàn thể (GLS) được nhận định là thông số nhạy hơn để phát hiện sớm sự suy giảm chức năng tim.
Nghiên cứu được tiến hành trên 170 bệnh nhân phẫu thuật thay van ĐMC tại Bệnh viện Tim Hà Nội từ năm 2020 đến 2022, bao gồm 96 bệnh nhân hẹp chủ và 74 bệnh nhân hở chủ. Đây là một nghiên cứu tiến cứu, cắt ngang, theo dõi dọc trong 6 tháng sau phẫu thuật. Các thông số lâm sàng (NYHA, CCS), cận lâm sàng (điện tâm đồ, xét nghiệm máu, siêu âm tim truyền thống) và GLS được đánh giá trước, ngay sau và định kỳ sau phẫu thuật.
Kết quả cho thấy phẫu thuật thay van ĐMC cải thiện rõ rệt các đặc điểm lâm sàng như phân loại NYHA và CCS, với đa số bệnh nhân đạt NYHA I và CCS 0 sau 6 tháng. Các chỉ số cận lâm sàng như Sokolow-Lyon, chỉ số khối lượng cơ thất trái (LVMI) và chỉ số thể tích nhĩ trái (LAVI) đều giảm đáng kể sau phẫu thuật. Phân suất tống máu thất trái (EF) giảm nhẹ trong tuần đầu sau mổ nhưng cải thiện rõ rệt và tăng lên đáng kể sau 3-6 tháng ở cả hai nhóm. Đặc biệt, GLS cũng giảm ở tuần đầu tiên nhưng cải thiện rõ rệt sau 1 tháng và trở về mức bình thường sau 6 tháng theo dõi.
Nghiên cứu chỉ ra mối liên quan chặt chẽ giữa GLS với các thông số siêu âm và lâm sàng. Có tới 45,8% bệnh nhân hẹp chủ và 70,3% bệnh nhân hở chủ có GLS giảm mặc dù EF bảo tồn. GLS và EF có mối tương quan nghịch chặt chẽ (p<0,001). Một điểm cắt GLS trước phẫu thuật là > -11,85% có giá trị tiên lượng cao về sự không hồi phục EF (<50%) sau 6 tháng, với nguy cơ cao gấp 97,8 lần. Ngoài ra, GLS trước phẫu thuật càng suy giảm thì mức độ suy tim theo phân loại NYHA càng cao. Giá trị GLS trước mổ cũng liên quan đến thời gian nằm hồi sức, nằm viện và nguy cơ biến chứng sau phẫu thuật, cũng như biến cố nhập viện lại vì suy tim.
Luận án khẳng định GLS là một thông số mới, nhạy và vượt trội hơn EF trong việc phát hiện sớm rối loạn chức năng thất trái ở bệnh nhân phẫu thuật thay van ĐMC, cung cấp khả năng dự báo tiên lượng phục hồi chức năng thất trái và khả năng gắng sức sau thay van. Do đó, khuyến nghị thực hiện thường quy đánh giá chức năng thất trái bằng GLS ở các bệnh nhân này để tối ưu hóa quản lý và tiên lượng bệnh.
Mục lục chi tiết:
- ĐẶT VẤN ĐỀ
- Chương 1 TỔNG QUAN
- 1.1. Đại cương về bệnh lý van động mạch chủ (ĐMC):
- 1.1.1. Sinh lý bệnh:
- 1.1.2. Triệu chứng lâm sàng:
- 1.1.3. Điện tâm đồ:
- 1.1.4. Siêu âm tim:
- 1.1.5. Chẩn đoán
- Hẹp van ĐMC khít:
- Hở van ĐMC nhiều:
- 1.1.6. Điều trị bệnh lý van ĐMC
- 1.2. Siêu âm đánh dấu mô cơ tim 2D trong đánh giá sức căng dọc thất trái ở bệnh nhân bệnh van ĐMC được phẫu thuật thay van
- Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- 2.1. Đối tượng nghiên cứu
- 2.1.1. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân:
- 2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
- 2.2. Phương pháp nghiên cứu
- 2.3. Các bước tiến hành:
- 2.3.1. Trước phẫu thuật:
- 2.3.2. Phẫu thuật thay van ĐMC:
- 2.3.3. Sau phẫu thuật:
- 2.4. Siêu âm đánh dấu mô cơ tim:
- 2.5. Các thông số nghiên cứu chính:
- 2.6. Xử lý số liệu thống kê:
- Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
- 3.1. Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu:
- 3.2. Khảo sát sự biến đổi đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và GLS trên siêu âm đánh dấu mô cơ tim 2D ở bệnh nhân phẫu thuật thay van ĐMC được theo dõi trong 6 tháng
- 3.2.1. Sự biến đổi một số đặc điểm lâm sàng:
- 3.2.2. Sự biến đổi một số đặc điểm cận lâm sàng
- 3.2.3. Sự biến đổi GLS theo dõi 6 tháng sau phẫu thuật thay van
- 3.3. Mối liên quan của GLS trên siêu âm đánh dấu mô cơ tim 2D với một số thông số siêu âm tim và lâm sàng ở bệnh nhân phẫu thuật thay van ĐMC được theo dõi trong 6 tháng.
- 3.3.1. Mối liên quan của GLS với một số thông số siêu âm
- 3.3.1.1. Mối liên quan của GLS với phân suất tống máu
- 3.3.1.2. Mối liên quan giữa GLS với chỉ số khối lượng cơ thất trái (LVMI):
- 3.3.2. Mối liên quan của GLS với một số thông số lâm sàng
- 3.3.2.1. Mối liên quan của sức căng dọc thất trái với phân loại NYHA
- 3.3.2.2. Ảnh hưởng của GLS trước phẫu thuật với thời gian nằm hồi sức và nằm viện sau mổ:
- 3.3.2.3. Ảnh hưởng của GLS trước phẫu thuật tới tỷ lệ biến chứng sau phẫu thuật:
- 3.3.2.4. So sánh giá trị GLS trước mổ giữa nhóm có và không có biến cố nhập viện lại vì suy tim:
- Chương 4 BÀN LUẬN
- 4.1. Bàn luận về đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu:
- 4.2. Bàn luận về sự biến đổi đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và GLS trên siêu âm đánh dấu mô cơ tim 2D ở bệnh nhân phẫu thuật thay van ĐMC được theo dõi trong 6 tháng
- 4.2.1. Sự biến đổi đặc điểm lâm sàng
- 4.2.2. Sự biến đổi đặc điểm cận lâm sàng
- 4.2.3. Sự biến đổi GLS sau phẫu thuật thay van qua theo dõi 6 tháng
- 4.3. Bàn luận về mối liên quan của GLS trên siêu âm đánh dấu mô cơ tim 2D với một số thông số siêu âm tim và lâm sàng ở bệnh nhân phẫu thuật thay van ĐMC được theo dõi trong 6 tháng.
- 4.3.1. Mối liên quan giữa chỉ số GLS với một số thông số siêu âm
- 4.3.1.1. Mối liên quan của GLS với phân suất tống máu thất trái
- 4.3.1.2. Mối liên quan giữa GLS và LVMI:
- 4.3.2. Mối liên quan giữa chỉ số GLS với một số thông số lâm sàng
- KẾT LUẬN
- 1. Sự biến đổi đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và GLS trên siêu STE - 2D ở bệnh nhân phẫu thuật thay van ĐMC được theo dõi trong 6 tháng
- 1.1. Sự biến đổi đặc điểm lâm sàng
- 1.2. Sự biến đổi đặc điểm cận lâm sàng
- 2. Mối liên quan của GLS trên STE- 2D với một số thông số siêu âm tim và lâm sàng ở bệnh nhân phẫu thuật thay van ĐMC được theo dõi trong 6 tháng
- 2.1. Mối liên quan giữa GLS với một số thông số siêu âm
- 2.2. Mối liên quan giữa chỉ số GLS với một số thông số lâm sàng
- KIẾN NGHỊ
- NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
- DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUA ĐẾN LUẬN ÁN