Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái và kỹ thuật gây trồng loài Bương lông điện biên (Dendrocalamus giganteus Munro)
Không được cung cấp trong văn bản.
Luận án được hoàn thành tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên vào năm 2016, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Nguyễn Hoàng Nghĩa và TS. Nguyễn Anh Dũng. Công trình tập trung nghiên cứu loài Bương lông điện biên (Dendrocalamus giganteus Munro), một loài cây được đánh giá là cấp thiết phải nghiên cứu sâu do vai trò đa tác dụng trong đời sống người dân vùng cao, góp phần nâng cao giá trị kinh tế, bảo vệ môi trường và phát triển rừng ở các tỉnh miền núi phía Bắc.
Mục tiêu tổng quát của luận án là bổ sung các đặc điểm sinh học, sinh thái và kỹ thuật gây trồng loài Bương lông điện biên, nhằm tạo cơ sở khoa học cho việc phát triển chúng làm nguyên liệu công nghiệp chế biến và thực phẩm. Các mục tiêu cụ thể bao gồm xác định đặc điểm sinh học, sinh thái tại khu vực nghiên cứu và phát triển kỹ thuật nhân giống vô tính (chiết gốc cành, giâm hom thân) cùng kỹ thuật trồng, từ đó đề xuất giải pháp phát triển cây tại địa phương. Luận án được coi là công trình đầu tiên nghiên cứu có giá trị về loài này, cung cấp định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo.
Về phương pháp, nghiên cứu tiếp cận theo hệ thống, kết hợp điều tra khảo sát thực địa với thí nghiệm đồng ruộng và phân tích trong phòng. Dữ liệu được thu thập thông qua kế thừa tài liệu và điều tra thực địa tại 3 xã thuộc huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên và 1 xã thuộc huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ, với việc thiết lập 12 tuyến điều tra và 40 ô tiêu chuẩn.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng Bương lông điện biên, còn gọi là Bương lớn hay Mạy púa mơi, thuộc họ Cỏ, phân họ tre trúc. Đặc điểm sinh học cho thấy rễ mọc dạng chùm, thân ngầm dạng củ. Mắt ngủ thân ngầm có đường kính lớn hơn ở cây mẹ có cấp đường kính gốc lớn hơn, và khả năng tái sinh măng giảm dần theo tuổi cây mẹ. Về sinh thái, cây Bương lông điện biên sinh trưởng tốt hơn ở Điện Biên (độ cao >700m, lượng mưa cao) so với Phú Thọ (độ cao <700m), với đường kính và chiều cao trung bình cao hơn. Cây được trồng ở độ cao 150-980m, độ dốc 7-35 độ, trên đất Feralit màu vàng có tầng đất mặt trung bình. Đất dưới tán cây thường chua, với hàm lượng mùn và đạm khá đến giàu ở Điện Biên. Mật độ trồng trung bình dao động từ 844 đến 1.038 cây/ha. Trong kỹ thuật nhân giống, nghiên cứu cho thấy vụ xuân là thời điểm thích hợp cho phương pháp chiết gốc cành, với dung dịch IBA nồng độ 1.5% mang lại hiệu quả cao nhất. Ngược lại, phương pháp giâm hom thân cho tỷ lệ phát triển thành cây rất thấp, với kết quả tốt nhất chỉ đạt 10% khi sử dụng NAA 1.5% cho hom 2 đốt.