info@luanan.net.vn
VIP Luận án DOC

Luận án Nghiên cứu đặc điểm điện thế muộn và rối loạn nhịp thất ở bệnh nhân thiếu máu cơ tim cục bộ mạn tính

Năm2023
Lĩnh vựcY tế - Sức khoẻ
Ngôn ngữTiếng Việt, Tiếng Anh

Mô tả tài liệu

Tên luận án:

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM ĐIỆN THẾ MUỘN VÀ RỐI LOẠN NHỊP THẤT Ở BỆNH NHÂN THIẾU MÁU CƠ TIM CỤC BỘ MẠN TÍNH

Ngành:

Nội khoa/Nội tim mạch

Tóm tắt nội dung tài liệu:

Nghiên cứu này tập trung vào bệnh lý thiếu máu cơ tim cục bộ (TMCTCB) mạn tính, một vấn đề sức khỏe toàn cầu ảnh hưởng đến hàng triệu người và gây tử vong đáng kể do rối loạn nhịp thất (RLNT), suy tim hoặc nhồi máu cơ tim. Đề tài nhấn mạnh tầm quan trọng của điện thế muộn (ĐTM) - một kỹ thuật không xâm lấn, hiệu quả và kinh tế - trong việc dự báo các RLNT nguy hiểm và phân tầng nguy cơ ở bệnh nhân TMCTCB mạn tính, đồng thời chỉ ra sự thiếu hụt các nghiên cứu về mối liên quan này.

Mục tiêu chính của nghiên cứu là khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và ĐTM ở bệnh nhân TMCTCB mạn tính, đồng thời đánh giá mối liên quan giữa ĐTM với các đặc điểm này và RLNT. Nghiên cứu đã thực hiện trên 249 đối tượng (162 bệnh nhân TMCTCB và 87 nhóm chứng). Kết quả cho thấy bệnh nhân TMCTCB có độ tuổi trung bình 66,91 ± 8,92, chủ yếu từ 61-75 tuổi, với tỷ lệ nam/nữ khoảng 3,8/1. Các triệu chứng phổ biến là đau ngực (90,7%), khó thở (50%) và hồi hộp (33,3%). Các yếu tố nguy cơ thường gặp bao gồm tăng huyết áp (87%), rối loạn lipid máu (56,8%), hút thuốc lá (53,7%), lạm dụng rượu (42,6%) và tiền sử nhồi máu cơ tim (38,9%).

Phân tích Holter điện tim 24 giờ cho thấy 88,9% bệnh nhân TMCTCB có ngoại tâm thu thất (NTTT), trong đó 34,0% là NTTT phức tạp (Lown độ 3-5), cao hơn đáng kể so với nhóm chứng (57,5% NTTT, chủ yếu đơn giản). Tỷ lệ ĐTM bất thường ở nhóm TMCTCB mạn tính là 38,3%, cao hơn nhiều so với nhóm chứng (1,1%). Các thông số ĐTM bất thường như HFQRS, LAHF và RMS40 có sự khác biệt rõ rệt giữa hai nhóm. ĐTM bất thường làm tăng nguy cơ hồi hộp (52,71 lần) và choáng váng (6,24 lần). Bệnh nhân TMCTCB có phân suất tống máu giảm (EF < 40%) hoặc rối loạn vận động vùng có nguy cơ ĐTM bất thường cao hơn đáng kể.

Đặc biệt, ĐTM bất thường làm tăng nguy cơ xuất hiện NTTT chùm đôi 71,62 lần, nhanh thất ngắn 2,3 lần, và rối loạn nhịp thất phức tạp 79,17 lần. Phương pháp ghi ĐTM cho thấy độ nhạy 90,9%, độ đặc hiệu 88,8%, giá trị tiên đoán dương 80,6% và giá trị tiên đoán âm 95% trong dự báo RLNT. Từ đó, nghiên cứu kiến nghị nên triển khai rộng rãi kỹ thuật ghi điện tâm đồ trung bình tín hiệu để đánh giá ĐTM ở bệnh nhân TMCTCB mạn tính, đặc biệt là những trường hợp có triệu chứng hoặc giảm chức năng tim, nhằm phân tầng và dự báo nguy cơ RLNT nguy hiểm.

Tài liệu liên quan