info@luanan.net.vn
Luận án DOC

Luận án Nghiên cứu biến đổi triệu chứng lâm sàng, hình thái, chức năng tuyến yên ở bệnh nhân u tuyến yên trước và sau điều trị bằng dao gamma quay

Năm2018
Lĩnh vựcY tế - Sức khoẻ
Ngôn ngữTiếng Việt, Tiếng Anh

Mô tả tài liệu

Tên luận án:

Nghiên cứu biến đổi triệu chứng lâm sàng, hình thái, chức năng tuyến yên ở bệnh nhân u tuyến yên trước và sau

Tóm tắt nội dung tài liệu:

Luận án này tập trung nghiên cứu về biến đổi triệu chứng lâm sàng, hình thái và chức năng tuyến yên ở bệnh nhân u tuyến yên trước và sau điều trị xạ phẫu tại Việt Nam. Đề tài được đặt ra trong bối cảnh Việt Nam bắt đầu ứng dụng phương pháp xạ phẫu bằng dao gamma quay từ năm 2007 để điều trị u não, bao gồm u tuyến yên, nhưng chưa có báo cáo cụ thể về những biến đổi này.

Nghiên cứu được tiến hành trên 73 bệnh nhân u tuyến yên được khám và điều trị tại Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu Bệnh viện Bạch Mai, trong giai đoạn từ tháng 01/2011 đến tháng 01/2016. Các tiêu chuẩn lựa chọn bao gồm bệnh nhân trên 18 tuổi, được chẩn đoán xác định u tuyến yên trên MRI sọ não, có xét nghiệm các hormon tuyến yên, không mắc các bệnh cấp/mạn tính đe dọa tính mạng và chấp nhận tham gia nghiên cứu. Đối với nhóm xạ phẫu, bệnh nhân cần đủ tiêu chuẩn trên và sau phẫu thuật không lấy hết u, đồng thời u có kích thước dưới 50mm và khoảng cách từ khối u đến giao thoa thị giác tối thiểu 3mm.

Thiết kế nghiên cứu là hồi cứu kết hợp tiến cứu, mô tả cắt ngang kết hợp theo dõi dọc sau điều trị không nhóm chứng. Nội dung nghiên cứu bao gồm khám lâm sàng trước và sau điều trị xạ phẫu, cùng với các xét nghiệm định lượng hormon (Prolactin, GH, FSH, LH, TSH, ACTH, Estradiol, Testosteron, Cortisol máu, FT4) và chụp cộng hưởng từ sọ não có tiêm thuốc định kỳ sau 6, 12, 24, 36 tháng.

Kết quả nghiên cứu cho thấy tuổi trung bình của bệnh nhân là 42,5±13,2 tuổi, với nhóm 31-45 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất. Phần lớn bệnh nhân (52,7%) có thời gian từ khi có triệu chứng đến khi vào viện là 12-36 tháng. Về thể bệnh, u không hoạt tính nội tiết chiếm ưu thế với 56,2%, trong khi u có hoạt tính nội tiết chiếm 43,8% (trong đó u tiết Prolactin chiếm 20,5%). Lý do vào viện phổ biến nhất là đau đầu (56,2%), theo sau là rối loạn thị giác (21,9%). Triệu chứng đau đầu cũng là triệu chứng lâm sàng do khối u chèn ép chiếm tỷ lệ cao nhất, đặc biệt ở nhóm u không hoạt tính nội tiết (75,6%). Các triệu chứng rối loạn hormon thường gặp ở nhóm u có hoạt tính nội tiết bao gồm tiết sữa (46,9%), rối loạn kinh nguyệt (51,8%) và to đầu chi (25,0%).

Về đặc điểm cận lâm sàng, kích thước u trung bình là 18,0±10,9 mm, với tỷ lệ macroadenoma cao hơn đáng kể (74,0%) so với microadenoma. Khối u thường có ranh giới không rõ (56,2%) và cấu trúc đặc (69,9%). Phân loại mức độ xâm lấn theo Hardy cho thấy u độ II chiếm tỷ lệ cao nhất (31,5%), và giai đoạn B phổ biến nhất (57,5%). Phân tích hormon cho thấy nồng độ Prolactin rất cao ở nhóm u tiết PRL (nữ cao hơn nam) và nồng độ GH rất cao ở nhóm u tiết GH (nữ cao hơn nam).

Mục lục chi tiết:

  • Đặt vấn đề (2 trang)
  • Chương 1: Tổng quan (32 trang)
  • Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu (21 trang)
  • Chương 3: Kết quả (29 trang)
  • Chương 4: Bàn luận (34 trang)
  • Kết luận (2 trang)
  • Kiến nghị (1 trang)

Tài liệu liên quan