info@luanan.net.vn
Luận án DOC

Luận án Nghiên cứu áp dụng chỉnh hình giác mạc bằng kính tiếp xúc

Năm2021
Lĩnh vựcY tế - Sức khoẻ
Ngôn ngữTiếng Việt, Tiếng Anh

Mô tả tài liệu

Tên luận án:

NGHIÊN CỨU ÁP DỤNG CHỈNH GIÁC MẠC BẰNG KÍNH TIẾP XÚC

Ngành:

Nhãn khoa

Tóm tắt nội dung tài liệu:

Luận án "Nghiên cứu áp dụng chỉnh giác mạc bằng kính tiếp xúc" của Lê Thị Hồng Nhung, Trường Đại học Y Hà Nội, năm 2021, tập trung giải quyết vấn đề cận thị gia tăng toàn cầu, đặc biệt tại Châu Á và Việt Nam, gây ra nhiều biến chứng nghiêm trọng. Phương pháp chỉnh hình giác mạc bằng kính tiếp xúc cứng đeo đêm (ortho-k) đã được chứng minh hiệu quả trong điều chỉnh và kiểm soát cận thị ở các nước khác. Tại Việt Nam, phương pháp này mới được áp dụng và cần đánh giá toàn diện.

Mục tiêu của luận án là đánh giá kết quả điều trị cận thị bằng phương pháp chỉnh hình giác mạc bằng kính tiếp xúc cứng đeo đêm và phân tích các yếu tố liên quan ảnh hưởng đến kết quả điều trị.

Nghiên cứu đã đóng góp bằng cách thực hiện thử nghiệm lâm sàng có đối chứng tại Việt Nam một cách hệ thống và toàn diện, đánh giá kết quả lâu dài và các yếu tố liên quan. Luận án đánh giá hiệu quả toàn diện không chỉ về chức năng thị lực và thay đổi khúc xạ của nhãn cầu mà còn cả sự thay đổi của các số đo sinh học như chiều dài trục nhãn cầu, biến đổi hình thái giác mạc và tính an toàn. Kết quả cho thấy phương pháp này có hiệu quả rõ rệt trong việc làm chậm tiến triển cận thị, tiềm năng trở thành một biện pháp can thiệp y tế quan trọng để giảm nguy cơ mù lòa. Nghiên cứu cũng phân tích các yếu tố liên quan như tuổi ban đầu và độ cận ban đầu ảnh hưởng đến kết quả, khuyến nghị điều trị sớm để ngăn chặn tiến triển cận thị.

Các kết quả chính sau 2 năm điều trị trên 82 mắt nhóm ortho-k và 86 mắt nhóm chứng cho thấy: thị lực không kính của nhóm ortho-k duy trì tốt (90,2% đạt ≥ 20/25); độ khúc xạ trung bình giảm đáng kể và ổn định (-0,217±0,7D sau 3 tháng); độ khúc xạ cầu tương đương tăng chậm hơn nhóm chứng (-0,10 ±0,24D so với -1,09 ±0,63D); cận thị tiến triển chậm ở 96,3% mắt nhóm ortho-k; trục nhãn cầu tăng chậm hơn nhóm chứng 57,6%; khúc xạ giác mạc giảm đáng kể và ổn định. Tỷ lệ hài lòng cao (88,1% rất hài lòng) với biến chứng thấp. Tuổi bắt đầu điều trị càng nhỏ thì tiến triển cận thị càng chậm.

Tài liệu liên quan