Nghệ thuật điêu khắc tượng nhà mồ của dân tộc Gia Rai ở Bắc Tây Nguyên
Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật
Luận án "Nghệ thuật điêu khắc tượng nhà mồ của dân tộc Gia Rai ở Bắc Tây Nguyên" của NCS Hồ Thị Thanh Nhàn, thuộc chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật, trình bày những kết luận mới về loại hình nghệ thuật độc đáo này. Luận án khẳng định tượng nhà mồ Gia Rai là nghệ thuật điêu khắc dân gian mang yếu tố nguyên thủy, tuy vẫn còn tồn tại kéo dài đến ngày nay, cần được nghiên cứu bằng phương pháp tiếp cận liên ngành. Trong đó, các lý thuyết Mỹ thuật học và Mỹ học dân gian là cơ sở lý luận chính, bổ trợ bởi các lý thuyết Biểu tượng, Cấu trúc – Chức năng và Sinh thái văn hóa. Căn tính của dân tộc di cư và những nét đặc thù của môi trường tự nhiên – văn hóa Bắc Tây Nguyên được xác định là yếu tố quyết định sự hình thành các đặc điểm chung của tượng nhà mồ Gia Rai và sự phân tách thành nhiều nhóm nhỏ địa phương với những đặc điểm tạo hình tương đối khác biệt.
Nghiên cứu chỉ ra những đặc trưng mang tính vùng miền của tượng nhà mồ Gia Rai. Đề tài, nội dung và hình tượng nghệ thuật đều phản ánh hiện thực cuộc sống, đồng thời biểu trưng cho một thế giới thiêng tồn tại song song và vận hành như thế giới thực. Chất liệu tạc tượng là gỗ mềm và không qua xử lý, thường mau chóng mục rữa. Dụng cụ điêu khắc là công cụ lao động (rìu và dao), khiến cho bề mặt tượng thường lưu lại dấu vết thủ công, tạo nên nét mỹ cảm độc đáo. Bố cục tổng thể của tượng theo phương thẳng đứng và ưu tiên tính tĩnh hơn là tính động.
Luận án cũng phân tích sự khác biệt trong tượng nhà mồ của từng nhóm Gia Rai địa phương. Đề tài phân bố không đồng đều, kích thước và vị trí, bố cục tượng không hoàn toàn giống nhau giữa các nhóm. Nhìn chung, tượng nhà mồ của các nhóm Gia Rai cư trú trên cùng vùng đất cao (các nhóm Gia Rai Chon, A ráp, T’buăn) thường có kích thước lớn hơn nhưng bố cục khối đơn giản hơn và được tạc trên bệ thấp. Ngược lại, tượng của các nhóm cư trú trong vùng đất thấp (các nhóm Gia Rai Chor, Mthur) thường được thu nhỏ lại, bố cục khối phức tạp hơn và được tạc trên các trụ cao. Sự khác biệt trong thủ pháp tạo hình còn biểu hiện qua ngôn ngữ hình khối của từng nhóm, trong đó tượng nhà mồ Gia Rai Aráp sắc sảo nhất (ưu tiên khối tuyến tính), tượng nhà mồ Gia Rai Chor mềm mại nhất (ưu tiên khối sinh học), các nhóm còn lại có mức độ tương đối linh hoạt giữa hai ngôn ngữ tạo hình này.
Về giá trị, luận án nhấn mạnh giá trị bản sắc dân tộc qua nghệ thuật điêu khắc vượt trội và chiếm lĩnh vị trí trung tâm; giá trị nghệ thuật dân gian trên nền tảng văn hóa Mã Lai – Đa Đảo, góp phần định hình những đặc trưng của vùng văn hóa – nghệ thuật Bắc Tây Nguyên, phân biệt rõ với các vùng miền khác trên cả nước; và giá trị đóng góp thông qua những ảnh hưởng tích cực lên các sáng tác mỹ thuật Việt Nam hiện đại. Cuối cùng, luận án đề xuất những giải pháp bảo vệ và phát huy giá trị nghệ thuật điêu khắc tượng nhà mồ Gia Rai, bao gồm hỗ trợ nguyên liệu và tạo cơ hội thực hành tạc tượng; sưu tập hiện vật đầy đủ hơn, bảo quản và trưng bày hiệu quả hơn; tổ chức hội thảo, chuyên đề tôn vinh giá trị và lấy ý kiến chuyên gia; và phát triển nhánh nghệ thuật mới bên cạnh việc bảo vệ nghệ thuật truyền thống.