info@luanan.net.vn
VIP Luận án DOC

Luận án Một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị phẫu thuật nội soi u tuyến yên dạng tăng tiết

Năm2022
Lĩnh vựcY tế - Sức khoẻ
Ngôn ngữTiếng Việt, Tiếng Anh

Mô tả tài liệu

Tên luận án:

MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT NỘI SOI U TUYẾN YÊN DẠNG TĂNG TIẾT

Ngành:

Ngoại thần kinh - sọ não

Tóm tắt nội dung tài liệu:

Luận án "Một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị phẫu thuật nội soi u tuyến yên dạng tăng tiết" của Lê Trần Minh Sử, thuộc ngành Ngoại thần kinh - sọ não, tập trung nghiên cứu về phẫu thuật nội soi u tuyến yên (UTY) dạng tăng tiết. UTY là một bệnh lý nội sọ phổ biến, chiếm khoảng 15%, phát triển từ thùy trước tuyến yên và có thể gây tăng tiết các hormone như GH (gây bệnh to cực), ACTH (gây Cushing) và prolactin (gây tăng prolactin máu), dẫn đến nhiều hệ lụy sức khỏe. Mặc dù các báo cáo trong nước đã chỉ ra kết quả khả quan trong điều trị UTY nói chung, nhưng vẫn thiếu các nghiên cứu chuyên biệt về hiệu quả phẫu thuật nội soi qua xoang bướm đối với UTY dạng tăng tiết, đặc biệt là sự thay đổi về nội tiết học sau phẫu thuật.

Nghiên cứu này được thực hiện theo phương pháp tiến cứu, mô tả hàng loạt ca, với đối tượng là tất cả bệnh nhân được chẩn đoán UTY dạng tăng tiết prolactin, GH, ACTH và được phẫu thuật nội soi lấy u qua xoang bướm tại Bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 1 năm 2014 đến tháng 12 năm 2018. Mục tiêu chính là đánh giá kết quả điều trị về hình ảnh học và nội tiết học, cũng như nhận xét mối liên quan giữa các đặc điểm hình ảnh học, mức độ lấy u với kết quả điều trị.

Kết quả nghiên cứu cho thấy phẫu thuật đơn thuần mang lại tỉ lệ khỏi bệnh về hình ảnh học là 72,6% và nội tiết học là 54,8%. Sau khi áp dụng các phương pháp điều trị hỗ trợ như thuốc đồng vận dopamin (cho UTY tiết PRL) và xạ phẫu gamma knife (cho UTY tiết GH), tỉ lệ đạt tiêu chuẩn khỏi bệnh về nội tiết học đã tăng lên 77,8% vào cuối giai đoạn theo dõi. Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị bao gồm mức độ lấy u toàn bộ (tiên lượng tốt với OR=2, p=0,04) và hình thái u trước mổ. Cụ thể, microadenoma cho thấy khả năng khỏi bệnh cao hơn sau phẫu thuật đơn thuần (OR=2,78, p=0,02), trong khi macroadenoma là yếu tố trở ngại (OR=0,06, p=0,02). Ngoài ra, u xâm lấn xoang hang (p=0,003) và u xâm lấn xương clivus (p=0,015) gây khó khăn trong việc đạt mục tiêu khỏi bệnh về hình ảnh.

Nghiên cứu kiến nghị rằng phẫu thuật nội soi lấy u qua xoang bướm kết hợp điều trị hỗ trợ là phương pháp hiệu quả, ít xâm lấn và an toàn, cần được áp dụng rộng rãi và không ngừng cải tiến. Cần tiếp tục theo dõi và áp dụng các phương pháp điều trị phù hợp cho hơn 20% bệnh nhân chưa đạt tiêu chuẩn khỏi bệnh nội tiết.

Mục lục chi tiết:

  • Tổng quan tài liệu
  • Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
  • Kết quả
  • Kết luận và kiến nghị

Tài liệu liên quan