Đăng nhập để tải tài liệu không giới hạn
Tham gia 8.000+ người dùng Thư Viện Luận Án
KHẢO SÁT CÁC ĐỘT BIẾN GEN Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ PHỔI KHÔNG TẾ BÀO NHỎ BẰNG PHƯƠNG PHÁP GIẢI TRÌNH TỰ GEN THẾ HỆ MỚI
Hóa Sinh Y Học
Luận án "Khảo sát các đột biến gen ở bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ bằng phương pháp giải trình tự gen thế hệ mới" của Đặng Huỳnh Anh Thư, chuyên ngành Hóa Sinh Y Học, tập trung vào việc đánh giá vai trò của các đột biến gen trong ung thư phổi không tế bào nhỏ (UTPKTBN). Nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của xét nghiệm các đột biến gen EGFR, ALK, ROS1, BRAF, KRAS, NRAS để định hướng điều trị đích và tiên lượng đáp ứng điều trị cho bệnh nhân UTPKTBN. Phương pháp giải trình tự gen thế hệ mới (NGS) được lựa chọn vì khả năng khảo sát đồng thời nhiều gen, chi phí hợp lý, kết quả nhanh chóng và khả năng áp dụng trên mẫu sinh thiết lỏng.
Mục tiêu nghiên cứu bao gồm việc xác định tỉ lệ đột biến của 6 gen (EGFR, ALK, ROS1, KRAS, NRAS, BRAF) bằng NGS trên mô u và mối liên quan với các đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân UTPKTBN. Đồng thời, luận án so sánh sự tương đồng trong phát hiện đột biến EGFR giữa NGS mô u với ddPCR và EGFR Cobas V2, cũng như giữa NGS sinh thiết lỏng với NGS mô u, ddPCR và EGFR Cobas V2.
Kết quả nghiên cứu trên 146 bệnh nhân UTPKTBN cho thấy 60,2% bệnh nhân có ít nhất một đột biến gen trong số 6 gen khảo sát. EGFR là gen đột biến thường gặp nhất (41,7%), tiếp theo là KRAS (12,3%). Đột biến ALK và BRAF chiếm tỉ lệ thấp (1,4% mỗi loại), trong khi ROS1 và NRAS không được phát hiện trong nghiên cứu này. Tỉ lệ đột biến EGFR cao hơn đáng kể ở bệnh nhân nữ (62,5%), không hút thuốc lá (65,9%) và có mô học biểu mô tuyến (46,2%). Về sự tương đồng giữa các phương pháp, NGS mô u cho thấy độ tương đồng rất tốt với ddPCR (96,7%, Kappa=0,86) và EGFR Cobas V2 (92,5%, Kappa=0,84) trong phát hiện đột biến EGFR. Đối với sinh thiết lỏng, NGS cũng có độ tương đồng rất tốt với ddPCR (97%, Kappa=0,87) và độ tương đồng tốt với NGS mô u (86,9%, Kappa=0,73) trong phát hiện 6 gen. NGS sinh thiết lỏng có độ nhạy 75,9% và độ đặc hiệu 96,9% so với NGS mô u.
Nghiên cứu kiến nghị cần xét nghiệm đột biến gen liên quan đến điều trị đích (EGFR, ALK, ROS1, BRAF, KRAS) để định hướng điều trị tối ưu cho bệnh nhân UTPKTBN giai đoạn muộn. Việc sử dụng NGS được khuyến nghị để khảo sát đồng thời các gen, giảm chi phí và có thể dùng sinh thiết lỏng khi sinh thiết mô u không khả thi hoặc để theo dõi điều trị.
Tải không giới hạn tất cả tài liệu, không cần chờ. Chỉ từ 199.000đ/tháng.
Xem gói hội viên