info@luanan.net.vn
Luận án DOC

Luận án Kết quả lồng ghép điều trị bằng Suboxone tại cơ sở điều trị HIV ngoại trú trên người bệnh HIV nghiện các chất ma túy dạng thuốc phiện ở Hà Nội

Năm2022
Lĩnh vựcY tế - Sức khoẻ
Ngôn ngữTiếng Việt, Tiếng Anh

Mô tả tài liệu

Tên luận án:

KẾT QUẢ LỒNG GHÉP ĐIỀU TRỊ BẰNG SUBOXONE TẠI CƠ SỞ ĐIỀU TRỊ HIV NGOẠI TRÚ TRÊN NGƯỜI BỆNH HIV NGHIỆN CÁC CHẤT MA TÚY DẠNG THUỐC PHIỆN Ở HÀ NỘI

Ngành:

Y tế Công cộng

Tóm tắt nội dung tài liệu:

Nghiện chất dạng thuốc phiện (CDTP) là một vấn đề y tế công cộng toàn cầu, gây ra gánh nặng bệnh tật đáng kể, bao gồm lây nhiễm HIV. Liệu pháp điều trị thay thế bằng buprenorphine/naloxone (Suboxone) được lồng ghép tại các cơ sở điều trị HIV ngoại trú đã được chứng minh là mô hình hiệu quả trên thế giới. Tuy nhiên, tại Việt Nam, việc đánh giá mô hình này còn hạn chế.

Luận án này là một trong những nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam nhằm đánh giá kết quả lồng ghép điều trị Suboxone tại cơ sở điều trị HIV ngoại trú trên người bệnh HIV nghiện các chất dạng thuốc phiện ở Hà Nội giai đoạn 2016-2019, đồng thời phân tích các yếu tố liên quan. Nghiên cứu sử dụng thiết kế can thiệp không nhóm chứng kết hợp định tính, tuyển chọn 136 người bệnh.

Kết quả cho thấy hành vi sử dụng heroin và mức độ thèm nhớ giảm đáng kể sau 12 tháng điều trị (p<0,001). Tỷ lệ tuân thủ điều trị Suboxone dao động từ 52% đến 62,5% qua các thời điểm, nhưng tỷ lệ duy trì điều trị cộng dồn còn thấp, đạt 29,9% sau 12 tháng. Lý do chính dẫn đến dừng điều trị là do bị bắt hoặc đi tù (32,6%).

Về kết quả điều trị ARV, tỷ lệ bệnh nhân có mức CD4 >500 TB/mm³ tăng từ 30,4% lên 42% sau 6 và 12 tháng. Tỷ lệ ức chế tải lượng virus <200 bản sao/mL đạt 81,8% tại thời điểm 6 và 12 tháng. Tỷ lệ tuân thủ ARV ≥90% duy trì ở mức cao (80,6% ban đầu, 87% tại 6 tháng và 79,4% tại 12 tháng).

Phân tích các yếu tố liên quan chỉ ra rằng kỳ thị liên quan đến sử dụng chất làm tăng nguy cơ xét nghiệm dương tính với morphine (OR=2,51). Liều Suboxone cao hơn giúp giảm tỷ lệ bỏ điều trị (aHR=0,94), trong khi kỳ thị liên quan đến HIV lại làm tăng tỷ lệ bỏ điều trị (aHR=1,01). Người bệnh dương tính với morphine có khả năng tuân thủ ARV kém hơn (OR=0,22), và mức CD4 ≥ 500 TB/mm³ liên quan đến khả năng đạt ức chế tải lượng virus cao hơn.

Luận án cũng xác định các yếu tố thuận lợi như sự hài lòng của người bệnh với thuốc, mối quan hệ tốt giữa cán bộ y tế và bệnh nhân, và chăm sóc toàn diện. Tuy nhiên, các thách thức bao gồm động cơ điều trị, tình trạng sử dụng đa chất, hạn chế về cơ sở vật chất, nhân lực, đào tạo, thay đổi chính sách điều trị ARV và yếu tố kỳ thị. Nghiên cứu cung cấp những bằng chứng và bài học quan trọng cho việc triển khai và mở rộng mô hình lồng ghép điều trị Suboxone tại Việt Nam.

Mục lục chi tiết:

  • Đặt vấn đề (03 trang)
  • Chương 1: Tổng quan nghiên cứu (26 trang)
  • Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu (22 trang)
  • Chương 3: Kết quả nghiên cứu (48 trang)
  • Chương 4: Bàn luận (28 trang)
  • Kết luận (04 trang)
  • Khuyến nghị (01 trang)

Tài liệu liên quan