HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VITAMIN D TRONG DỰ PHÒNG HỘI CHỨNG NHIỄM KHUẨN HÔ HẤP CẤP DO VI RÚT Ở NGƯỜI KHỎE MẠNH TẠI CỘNG ĐỒNG HUYỆN THANH LIÊM, TỈNH HÀ NAM
Y TẾ CÔNG CỘNG
Luận án tiến sĩ này nghiên cứu về hiệu quả sử dụng vitamin D trong dự phòng hội chứng nhiễm khuẩn hô hấp cấp (NKHHC) do vi rút ở người khỏe mạnh từ 3-17 tuổi tại cộng đồng huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam. Vitamin D được biết đến với vai trò quan trọng trong hấp thụ canxi, photphat và điều hòa miễn dịch, góp phần ngăn ngừa viêm và kích thích peptide kháng khuẩn chống vi rút. Mặc dù NKHHC do vi rút là bệnh lý phổ biến và có lo ngại về tình trạng thiếu hụt vitamin D tại Việt Nam, các nghiên cứu chuyên sâu về vai trò của vitamin D trong dự phòng cúm còn hạn chế.
Nghiên cứu được thực hiện theo thiết kế thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng, mù đôi trên 400 đối tượng (200 nhóm uống vitamin D, 200 nhóm giả dược) trong 12 tháng can thiệp tại xã Thanh Hà, huyện Thanh Liêm từ 6/2013 đến 10/2017.
Kết quả cho thấy nhóm uống vitamin D có tỷ lệ mắc NKHHC do vi rút thấp hơn đáng kể so với nhóm giả dược (61,5% so với 74%, p=0,007). Tổng số lượt mắc và số lần mắc trung bình NKHHC do vi rút cũng thấp hơn ở nhóm vitamin D (210 lượt so với 283 lượt; 2,1 ± 1,01 lần so với 2,4 ± 1,09 lần, p=0,000). Hiệu quả này rõ rệt hơn ở nam giới (giảm 19% nguy cơ) và nhóm tuổi 11-14 (giảm 28% nguy cơ). Việc bổ sung vitamin D làm giảm 15% nguy cơ nhiễm vi rút cúm và 35% nguy cơ nhiễm các vi rút đường hô hấp khác (ngoài cúm). Rhino vi rút được xác định là tác nhân chính gây viêm đường hô hấp không phải cúm.
Mối liên quan giữa nồng độ vitamin D trong máu và tỷ lệ mắc NKHHC cũng được xác định. Đối tượng có hàm lượng vitamin D trong máu từ 50-74 nmol/L và 25-49 nmol/L có nguy cơ mắc cúm cao hơn lần lượt 1,68 và 2,03 lần so với nhóm có hàm lượng >74 nmol/L. Mô hình hồi quy tối ưu chỉ ra rằng hàm lượng vitamin D trong máu (OR=1,01, p<0,05), tiền sử viêm đường hô hấp trên (OR=2,39, p<0,05) và tiền sử viêm đường hô hấp dưới (OR=1,61, p<0,05) là các yếu tố liên quan đến tỷ lệ nhiễm cúm.
Những đóng góp của luận án bao gồm cung cấp cơ sở cho các nhà hoạch định chính sách về chương trình bổ sung vitamin D, tạo tiền đề cho nghiên cứu sâu hơn và nâng cao năng lực giám sát, nghiên cứu tại địa phương. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hiện đại, đáng tin cậy, cung cấp bằng chứng khoa học cho việc đánh giá hiệu quả bổ sung vitamin D trong dự phòng NKHHC.
Phần chính của luận án bao gồm 110 trang, không kể bìa, lời cảm ơn, mục lục, các danh mục và phụ lục. Cụ thể:
Luận án có 24 bảng, 12 biểu đồ và hình vẽ.
Phần phụ lục gồm 178 tài liệu tham khảo (21 tiếng Việt, 157 tiếng Anh); 14 công cụ nghiên cứu (bộ câu hỏi, biểu mẫu thu thập thông tin, nhật ký theo dõi đối tượng hàng ngày).