“Điều trị u hốc mắt bằng phương pháp mổ vi phẫu qua sọ”
Ngoại Thần kinh
U hốc mắt (UHM) là một bệnh lý hiếm gặp, với tần suất khoảng 1/100000 dân, chủ yếu được điều trị bằng phẫu thuật. Luận án này tập trung đánh giá vai trò của phương pháp mổ vi phẫu qua sọ trong điều trị UHM. Phương pháp phẫu thuật qua sọ, lần đầu tiên được Dandy mô tả năm 1922, ngày càng được cải tiến và giữ vai trò quan trọng, đặc biệt cho các u liên quan thành trên hốc mắt-nội sọ, một phần ba sau hốc mắt và u của thần kinh thị giác. Các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam còn mang tính tổng quan hoặc hạn chế về phương pháp, cho thấy tính cấp thiết của đề tài này.
Nghiên cứu được thực hiện trên 57 bệnh nhân UHM tại Bệnh viện Chợ Rẫy từ 01/2017 đến 09/2019. Tuổi trung bình của bệnh nhân là 43,5 ± 15,2, với tỷ lệ nam:nữ xấp xỉ 1:1,1. Các triệu chứng lâm sàng nổi bật là lồi mắt (100%) và giảm thị lực (68,4%). Phương pháp phẫu thuật chủ yếu là mở sọ trán ngoài màng cứng (68,4%) và trán thái dương ngoài màng cứng (28,1%), bảo tồn cung mày. Các vị trí u phổ biến nhất là thành trên hốc mắt (28%), nguồn gốc từ thần kinh thị giác (24,6%) và thành trên trong hốc mắt (19,3%). Các loại u thường gặp bao gồm u màng não thần kinh thị giác (21,1%), u tế bào Schwann (14%), carcinôm và u mạch dạng hang (cùng 10,5%).
Kết quả phẫu thuật cho thấy tỷ lệ lấy toàn bộ u đạt 59,6%, lấy gần hết u là 36,8% và lấy bán phần u là 3,5%. Về biến chứng, sụp mi sau mổ chiếm 28,1% (tất cả hồi phục sau 3 tháng), thị lực xấu sau mổ là 12,3%, và nhiễm trùng vết mổ nông là 1,8%. Đánh giá kết quả sau mổ 3 tháng cho thấy 84,9% trường hợp đạt kết quả rất tốt và tốt, 13,2% đạt trung bình và 1,9% xấu.
Nghiên cứu cũng xác định các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả phẫu thuật. Vị trí u trong đỉnh hốc mắt có tiên lượng xấu hơn so với u ngoài nón hoặc trong nón (p = 0,011). U không có nguồn gốc từ thần kinh thị giác có tiên lượng tốt hơn u có nguồn gốc từ thần kinh thị giác (p < 0,001). Mặc dù không có mối liên quan rõ rệt giữa loại giải phẫu bệnh chung với kết quả, nhưng u màng não bao thần kinh thị giác và u tế bào Schwann cho thấy ảnh hưởng đáng kể.
Luận án khẳng định việc sử dụng vi phẫu qua sọ mang lại hiệu quả cao và giảm biến chứng trong điều trị UHM ở những vị trí phức tạp, đồng thời khuyến nghị tiếp tục phát triển phương pháp này tại các trung tâm phẫu thuật thần kinh.