ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CAN THIỆP ĐỘNG MẠCH VÀNH KHÔNG THỦ PHẠM CÓ HƯỚNG DẪN CỦA PHÂN SỐ DỰ TRỮ VÀNH (FFR) Ở BỆNH NHÂN NHỒI MÁU CƠ TIM CẤP CÓ ST CHÊNH LÊN
Nội tim mạch
Luận án này tập trung vào việc đánh giá kết quả can thiệp động mạch vành không thủ phạm (NC-ĐMV) có hướng dẫn của phân số dự trữ vành (FFR) ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp có ST chênh lên (NMCT cấp ST chênh lên). Nghiên cứu được thực hiện dưới dạng can thiệp lâm sàng không đối chứng, đơn trung tâm, theo dõi dọc trung bình 13,1±3,0 tháng (từ 8/2018 - 2/2020) trên tổng số 111 bệnh nhân đã can thiệp thì đầu thành công, với tuổi trung bình 68,4±11,0.
Mục tiêu chính của nghiên cứu là đánh giá FFR của các NC-ĐMV có mức độ hẹp từ 50-90% và xác định vai trò của FFR trong việc hướng dẫn chỉ định can thiệp NC-ĐMV ở đối tượng bệnh nhân NMCT cấp ST chênh lên. Vấn đề đặt ra là liệu việc chỉ định tái thông dựa vào hẹp hình thái có còn hạn chế do sự không tương đồng giữa hẹp hình thái và hẹp chức năng, và liệu FFR có thể mang lại độ chính xác cao hơn trong quyết định điều trị.
Kết quả nghiên cứu cho thấy FFR trung bình của các NC-ĐMV là 0,82±0,08, với 27,3% tổn thương được xác định là hẹp chức năng. Đáng chú ý, có 41,3% trường hợp ghi nhận hiện tượng không tương đồng giữa hẹp hình thái và hẹp chức năng. FFR cho thấy mối tương quan thuận mức độ chặt với đường kính lòng mạch nhỏ nhất (r = 0,59) và tương quan nghịch mức độ trung bình với chiều dài tổn thương (r = -0,49). Thủ thuật đo FFR được chứng minh là an toàn với tỷ lệ biến chứng thấp (0,9%), chủ yếu là rối loạn nhịp thất nhẹ liên quan đến thuốc giãn mạch, được xử trí ổn định.
Về vai trò của FFR trong hướng dẫn điều trị, nghiên cứu chỉ ra rằng việc áp dụng FFR giúp thay đổi chiến lược điều trị, giảm 48,6% số bệnh nhân phải can thiệp đặt stent. Chiến lược can thiệp sớm NC-ĐMV có hẹp chức năng trong cùng thời gian nằm viện đạt tỷ lệ thành công thủ thuật cao (97,2%), mà không làm tăng các biến cố như suy thận do cản quang hay chảy máu phải truyền máu so với nhóm chỉ can thiệp ĐMV thủ phạm. Tỷ lệ biến cố tim mạch trong thời gian theo dõi ngắn hạn (30 ngày) là 2,7% và dài hạn (12 tháng) là 11,7%, cho thấy không có sự khác biệt đáng kể giữa nhóm can thiệp toàn bộ (CTTB) và nhóm chỉ can thiệp ĐMV thủ phạm (CTTP). Điều trị bảo tồn NC-ĐMV có hẹp hình thái nhưng không hẹp chức năng cũng không làm tăng tỷ lệ biến cố tim mạch.
Những đóng góp khoa học chính của luận án là cung cấp dữ liệu về hẹp chức năng của NC-ĐMV bằng FFR trên bệnh nhân NMCT cấp ST chênh lên người Việt Nam, từ đó nâng cao độ chính xác trong chỉ định can thiệp và chứng minh tính an toàn, khả thi của chiến lược can thiệp có hướng dẫn FFR trong cùng thời gian nằm viện.