ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA PHẪU THUẬT COX MAZE IV BẰNG SÓNG TẦN SỐ RADIO TRÊN BỆNH NHÂN PHẪU THUẬT VAN TIM QUA ĐƯỜNG TIẾP CẬN ÍT XÂM LẤN
NGOẠI KHOA
Rung nhĩ (RN) là một loạn nhịp tim phổ biến, ảnh hưởng đến khoảng 0.3% dân số Việt Nam, tương đương gần 300.000 người, làm tăng nguy cơ huyết khối, đột quỵ và tử vong. Việc điều trị RN thường bao gồm dùng thuốc kháng đông suốt đời, đi kèm với nguy cơ xuất huyết. Phương pháp phẫu thuật Cox-Maze IV, sử dụng năng lượng sóng tần số Radio và nhiệt lạnh, đã được chứng minh hiệu quả trong điều trị rung nhĩ, giúp rút ngắn thời gian phẫu thuật và giảm độ phức tạp so với kỹ thuật cắt-và-khâu truyền thống.
Tại Việt Nam, tỷ lệ rung nhĩ được phát hiện ở 45-75% bệnh nhân phẫu thuật tim. Mặc dù phương pháp Cox-Maze IV đã được áp dụng trong phẫu thuật tim hở với tỷ lệ phục hồi nhịp xoang trung hạn là 87% và tỷ lệ tử vong trung hạn là 1.3%, việc ứng dụng phẫu thuật cắt đốt rung nhĩ bằng phương pháp Cox-Maze IV qua đường tiếp cận ít xâm lấn (PT MAZE ít xâm lấn) vẫn còn hạn chế. Nguồn năng lượng đốt đơn cực thường được sử dụng do trang thiết bị đơn giản và chi phí thấp.
Nghiên cứu này có tính cấp thiết nhằm đánh giá tính an toàn và hiệu quả của PT MAZE khi áp dụng qua đường mổ tim ít xâm lấn, từ đó tạo tiền đề cho việc phát triển kỹ thuật này tại Việt Nam. Các mục tiêu chính của nghiên cứu bao gồm: đánh giá tỉ lệ thành công về mặt kỹ thuật và kết quả 30 ngày sau phẫu thuật điều trị rung nhĩ bằng Cox-Maze IV; khảo sát kết quả trung hạn 12 tháng sau điều trị bằng phương pháp này qua đường tiếp cận ít xâm lấn; và nhận xét một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị.
Nghiên cứu được thực hiện trên 86 bệnh nhân được phẫu thuật Cox Maze IV bằng đầu đốt đơn cực đồng thời với phẫu thuật van tim qua đường tiếp cận ít xâm lấn. Kết quả cho thấy, thời gian thực hiện thủ thuật MAZE trung bình là 25,3 phút, và không ghi nhận tai biến trực tiếp liên quan đến kỹ thuật MAZE. Tỉ lệ chuyển nhịp xoang ngay sau phẫu thuật đạt 95,3%. Tỉ lệ thành công điều trị rung nhĩ bằng PT MAZE ít xâm lấn tại thời điểm 3 tháng là 77,6%, và tỉ lệ nhịp xoang duy trì tại 12 tháng sau mổ là 76,9%. Nghiên cứu cũng ghi nhận 03 trường hợp đột quỵ và 01 trường hợp sảng sau mổ, cùng với 02 trường hợp tử vong hậu phẫu. Bệnh nhân có sự cải thiện về triệu chứng cơ năng, với 80% đạt phân độ NYHA I sau 1 năm. Tỉ lệ rung nhĩ sớm sau mổ tăng có ý nghĩa thống kê khi có sửa van ba lá và thời gian tuần hoàn ngoài cơ thể kéo dài. Các yếu tố như tuổi, giới, kích thước nhĩ trái, phân suất tống máu, áp lực động mạch phổi, phẫu thuật van 2 lá, thời gian kẹp động mạch chủ và thời gian phẫu thuật không liên quan đến tái phát rung nhĩ sớm.
Nghiên cứu này là nghiên cứu đầu tiên về ứng dụng PT MAZE điều trị rung nhĩ qua đường mổ tim ít xâm lấn ở Việt Nam, chứng minh tính an toàn và hiệu quả của kỹ thuật này. Các nghiên cứu tiến cứu, ngẫu nhiên, với cỡ mẫu lớn và theo dõi dài hạn hơn được khuyến nghị để đánh giá toàn diện tác động của phẫu thuật Cox-Maze IV lên tỷ lệ sống còn và chất lượng cuộc sống của người bệnh.